LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 

 

CỤC HẬU CẦN QUÂN KHU 9

BỆNH VIỆN QUÂN Y 120

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỊCH SỬ

BỆNH VIỆN QUÂN Y 120

CỤC HẬU CẦN QUÂN KHU 9

(1977 – 2017)

 

 

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

 HÀ NỘI - 2017

 

 

 

 

  • Chỉ đạo nội dung:

       - Thường vụ Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu 9

  • Tổ chức thực hiện

    - Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 120

  • Chủ nhiệm công trình

    Lần xuất bản năm 2007

- Đại tá, bác sĩ Hồng Nhật Hùng - Giám đốc

- Đại tá Lê Tấn Luật - Bí thư Đảng ủy - Chính ủy

- Đại tá, bác sĩ Trần Đình Thăng - Phó Giám đốc

- Thượng tá, bác sĩ Nguyễn Trọng Sinh - Phó Giám đốc

- Thượng tá, bác sĩ Trương Hồng Thái - Phó Giám đốc

Lần xuất bản năm 2017

    - Đại tá, bác sĩ Phan Hồng Phúc - Giám đốc

    - Thượng tá Đặng Tiến Phước - Bí thư Đảng ủy - Chính ủy

    - Đại tá, bác sĩ  Vũ Đăng Trung - Phó Giám đốc

    - Thượng tá, bác sĩ Lương Vĩnh Khánh - Phó Giám đốc

    - Thượng tá, bác sĩ Lê Mạnh Cường - Phó Giám đốc

  • Ban biên soạn

Lần xuất bản năm 2007

- Đại tá Đặng Văn Tọa - Trưởng ban Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị - Cục Chính trị Quân khu 9 - Chủ biên

       - Thượng tá Nguyễn Tuấn Kiệt

     - Thượng tá Lê Lương Ngọc

   - Thượng tá Đậu Xuân Đoàn

Lần xuất bản năm 2017

    - Đại tá Nguyễn Xuân Quyết - Trưởng ban Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị - Cục Chính trị Quân khu 9 - Chủ biên

    - Đại úy Nguyễn Thị Minh Hiển - Trợ lý Ban Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị - Cục Chính trị Quân khu 9

* Có sự tham gia của các đồng chí:

    - Trung tá Võ Minh Thảo - Chủ nhiệm Chính trị Bệnh viện Quân y 120

    - Thiếu tá Lê Quang Trung - Trợ lý Ban Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị.

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

***

       Cách đây 40 năm, ngày 30 tháng 4 năm 1977 Bộ Tư lệnh Quân khu 9 ký quyết định thành lập Viện Quân y 120. Trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống của các đơn vị tiền thân thuộc lực lượng quân, dân y Khu 8 trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Bệnh viện Quân y 120 hôm nay, những người thầy thuốc mặc áo lính đã nêu cao ý thức tự lực tự cường, đoàn kết, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đồng thời, ra sức xây dựng Bệnh viện không ngừng phát triển, trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân trên địa bàn đóng quân.

      Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống của Bệnh viện Quân y 120 (30.4.1977 - 30.4.2007), được sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 120 đã tổ chức sưu tầm tư liệu và biên soạn cuốn “Lịch sử Bệnh viện 120 Quân khu 9 (1977-2007)” do Thiếu tướng Cao Văn Đởm - Nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 9 viết lời giới thiệu. Trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống của Bệnh viện, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện chỉ đạo tổ chức chỉnh sửa, bổ sung, tái bản, biện soạn cuốn sách “Lịch sử Bệnh viện Quân y 120 - Cục Hậu cần Quân khu 9 (1977-2017)”. Đây là một việc làm có ý nghĩa to lớn nhằm giáo dục cho các thế hệ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện hôm nay và mai sau hiểu được đầy đủ và sâu sắc lịch sử và những cống hiến của các thế hệ đi trước; từ đó khơi dậy niềm tự hào, ra sức phấn đấu, rèn luyện tiếp tục phát huy, tô thắm truyền thống quý báu của Bệnh viện trong giai đoạn tiếp theo.

      Là một trong những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cơ quan Cục Hậu cần những năm 2010-2016, tôi rất vui mừng trước sự trưởng thành, tiến bộ vượt bậc, những thành tích xuất sắc đạt được của các thế hệ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên Bệnh viện trong suốt 40 năm  qua và rất hoan nghênh Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 120 tiến hành tổ chức biên soạn, tái bản cuốn sách lịch sử truyền thống này.

      Với tình cảm đặc biệt chân thành, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn “Lịch sử Bệnh viện Quân y 120 - Cục Hậu cần Quân khu 9 (1977-2017)” tới đông đảo bạn đọc trong và ngoài quân đội; mong rằng các đồng chí cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện Quân y 120 tiếp tục phát huy truyền thống “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trên giao, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng Bệnh viện vững mạnh toàn diện, xứng đáng với niềm tin yêu của lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.            

                                                             Thiếu tướng Phạm Thành Tâm

                                                                  Phó Tư lệnh Quân khu 9

                                               

LỜI NÓI ĐẦU

 

       Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (30.4.1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cùng với cả nước tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh và thực hiện mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia có nhiều diễn biến phức tạp, bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, đêm ngày 30 tháng 4 năm 1977 đã bất ngờ mở cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Tổ quốc từ tỉnh Tây Ninh đến Hà Tiên - Kiên Giang, gây cho đồng bào các tỉnh biên giới nhiều tổn thất nặng nề về người và tài sản.

      Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhằm trực tiếp điều trị thương binh, bệnh binh và bảo đảm sức khỏe cho các đơn vị bộ đội khu vực các tỉnh Sông Tiền. Ngày 30 tháng 4 năm 1977, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định sáp nhập Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120[1].

     Ngay sau khi thành lập, theo yêu cầu nhiệm vụ, Viện Quân y 120 đã tổ chức ra các đội điều trị để kịp thời cứu chữa cho thương, bệnh binh bị thương trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1977-1978). Chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt, lực lượng vũ trang Quân khu phải sang chiến đấu giúp Bạn. Các đội điều trị của Bệnh viện Quân y 120 vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế vẻ vang 10 năm giúp bạn Campuchia (1979-1989), góp phần cùng với lực lượng vũ trang Quân khu giúp nhân dân Campuchia hồi sinh, thoát khỏi họa diệt chủng của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari. Ngày nay tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước, đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên Bệnh viện không ngừng tích cực học tập nâng cao trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện y đức, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trên giao, xứng đáng với danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” mà Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng.

      Để ghi lại quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và trưởng thành của Bệnh viện nhằm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước, ra sức phấn đấu xây dựng Bệnh viện không ngừng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, xứng đáng với sự tin yêu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện chỉ đạo biên soạn, bổ sung lịch sử Bệnh viện giai đoạn 2007-2017 và cho xuất bản cuốn sách “Lịch sử Bệnh viện Quân y 120 - Cục Hậu cần Quân khu 9 (1977 - 2017)”. Nội dung cuốn sách xuất bản lần này trên cơ sở kế thừa cuốn “Lịch sử Bệnh viện 120 - Quân khu 9 (1977-2007)”, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2007, đã được chỉnh lý, bổ sung các tư liệu, sự kiện phù hợp với từng giai đoạn, phản ánh khách quan, chân thực lịch sử 40 năm xây dựng, phục vụ chiến đấu và trưởng thành của Bệnh viện.

      Nhân dịp cuốn sách được ra mắt bạn đọc, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xin chân thành cảm ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần; sự quan tâm giúp đỡ của Phòng Quân y, Phòng Khoa học Quân sự - Bộ Tham mưu Quân khu, Ban Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị của Cục Chính trị Quân khu, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Đặc biệt, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện cảm ơn những đóng góp quý giá, đầy tâm huyết của các đồng chí cán bộ lão thành, những nhân chứng lịch sử đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuốn lịch sử truyền thống của Bệnh viện.

      Nhân dịp này, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xin gửi đến các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh các đồng chí cán bộ, y, bác sĩ và công nhân viên Bệnh viện qua các thời kỳ lời thăm hỏi ân cần và lời chúc sức khỏe.

     Do điều kiện lưu trữ tư liệu gặp nhiều khó khăn, nên mặc dù Ban biên soạn đã có nhiều cố gắng, song nội dung cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi kính mong quý bạn đọc chia sẻ và đóng góp những ý kiến quý báu để lần xuất bản sau cuốn sách đạt chất lượng tốt hơn.

 

                                                          ĐẢNG ỦY, BAN GIÁM ĐỐC

                                                                   BỆNH VIỆN QUÂN Y 120

 

 

 

Chương một

CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN

TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆN QUÂN Y 120

    

   I. MỘT SỐ NÉT VỀ ĐỊA LÝ, XÃ HỘI, NHÂN VĂN QUÂN SỰ CỦA MIỀN TRUNG NAM BỘ (KHU 8 CŨ)

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, miền Trung Nam Bộ luôn được xác định là chiến trường có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế; là chiến trường đông dân, có nguồn lương thực thực phẩm dồi dào; là cầu nối nối liền miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn với Đồng bằng sông Cửu Long.

Địa hình của Khu 8 chủ yếu là vùng đồng bằng, đất đai màu mỡ, sông ngòi chằng chịt. Đặc biệt có vùng trũng Đồng Tháp Mười là căn cứ địa rất quan trọng của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nước ở đây có độ phèn cao (pH từ 4 - 6), ăn uống dễ bị rối loạn tiêu hóa, bệnh đại tràng (đau bụng, kiết lỵ...). Đặc biệt nơi đây muỗi rất nhiều, vì vậy cán bộ, chiến sĩ ta bám trụ ở đây thường bị sốt do muỗi đốt. Việc đi lại cực kỳ vất vả, nhất là giai đoạn cuối mùa mưa, đất sình lầy nên hầu hết cán bộ, chiến sĩ bám trụ ở đây đều mắc bệnh ngoài da và thối móng chân.

Với hệ thống giao thông thủy là điều kiện thuận lợi cho địch phát huy tốt lực lượng giang thuyền tấn công ta, nhất là vào vùng căn cứ kháng chiến, gây cho ta nhiều khó khăn trong việc cơ động xe pháo, binh khí kỹ thuật, bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến đánh địch. Song cũng từ mạng giao thông thủy phát triển này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta cơ động lực lượng vũ trang tác chiến; vận chuyển thương binh, bệnh binh; di chuyển cơ sở điều trị, bảo đảm tiếp tế đạn dược, lương thực, thuốc men, trang thiết bị kỹ thuật quân y với quy mô vừa và nhỏ.

Ở Khu 8 có rất nhiều cù lao màu mỡ, ruộng vườn tốt tươi, nhân dân rất gắn bó với cách mạng. Dựa vào thế đất và lòng người trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ta đã xây dựng căn cứ cách mạng và nhiều mật cứ trong lòng dân và ngay cả trong vùng địch chiếm đóng. Ngoài trồng cây lương thực, thực phẩm, nhân dân còn trồng và phát triển nhiều cây thuốc nam quý hiếm. Việc kết hợp khai thác nguồn thực vật phong phú do thiên nhiên ban tặng với những cây thuốc Nam, ngành quân, dân y Khu 8 đã áp dụng và kế thừa những bài thuốc gia truyền của nhân dân để chữa trị cho cán bộ, chiến sĩ mang lại hiệu quả tốt như: dùng cây muồng trâu, lá ô môi để trị bệnh ghẻ lở, hắc lào cho cán bộ, chiến sĩ rất tốt... Đây là nguồn lực quan trọng để lực lượng vũ trang Quân khu miền Trung Nam Bộ phát triển quân y nhân dân phục vụ kháng chiến.

Về thời tiết khí hậu: là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; là vùng có độ ẩm cao (trung bình 80%) đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bộ đội và cũng gây nhiều khó khăn trong bảo quản, dự trữ thuốc, các trang bị y tế, lương thực, thực phẩm.

Trong suốt quá trình chinh phục thiên nhiên, khai hoang mở đất, người dân miền Trung Nam Bộ dù quê quán, dân tộc, tôn giáo khác nhau, vẫn sống chan hòa, lao động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác với nhau để sản xuất và lập nghiệp, chống chọi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm. Dân cư miền Trung Nam Bộ đa số là người Kinh, chiếm đến 89,7%, còn lại là người Khơme, người Hoa và người Chăm và là vùng đa tôn giáo.

Cùng với niềm tự hào và lòng yêu quê hương đất nước, suốt quá trình làm chủ, xây dựng và phát triển, người dân miền Trung Nam Bộ đã hình thành nên những giá trị truyền thống tốt đẹp “năng động, hào hiệp, phóng khoáng, thủy chung, đoàn kết, giàu lòng nhân ái hòa đồng”. Những truyền thống ấy đã nuôi dưỡng ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Nam Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng với đồng bào và chiến sĩ cả nước, quân và dân miền Trung Nam Bộ đã đoàn kết một lòng, nhất tề đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám (1945), tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tích cực căng kéo địch chi viện mọi mặt cho quân và dân ta đánh thắng hoàn toàn thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ - trận quyết chiến chiến lược 56 ngày đêm ở Điện Biên Phủ (13.3 - 7.5.1954).

Vượt qua những hy sinh, gian khổ ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân miền Trung Nam Bộ đã dũng cảm, kiên cường, phát huy sức mạnh truyền thống của quê hương Đồng Khởi lập nhiều chiến công xuất sắc, cùng với cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Được thành lập trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, được nuôi dưỡng bằng những giá trị văn hóa, tinh thần cao đẹp, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Bệnh viện luôn tự hào với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của thế hệ đi trước, đã ra sức phấn đấu xây dựng Bệnh viện vững mạnh toàn diện, xứng đáng với trang sử hào hùng của ông cha đã đi qua.

II. CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN, BỐI CẢNH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆN QUÂN Y 120

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, được sự hậu thuẫn của giới cầm quyền Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm tập trung đánh phá cách mạng miền Nam vô cùng khốc liệt, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới bằng Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, thực hành “tố cộng, diệt cộng”, Mỹ - Diệm đã đẩy nhân dân miền Nam đến cảnh khốn cùng. Căm thù trước tội ác của giặc, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân miền Trung Nam Bộ nói riêng ngày càng sôi sục, lan rộng. Nhằm đáp ứng trước yêu cầu đấu tranh của nhân dân miền Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam - Đó là Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1 năm 1959).

Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15, trong hai năm (1959-1960), dưới sự lãnh đạo của Liên tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ, phong trào đấu tranh của quần chúng nổi lên mạnh mẽ, sôi sục ở các nơi trên địa bàn Khu 8, biến thành cuộc khởi nghĩa mà đỉnh cao là phong trào Đồng Khởi được đột phá từ Bến Tre. Phong trào Đồng Khởi được lan tỏa mạnh mẽ khắp các tỉnh Nam Bộ, nhân dân miền Nam vùng dậy đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang diệt ác, phá kềm làm cho hàng loạt đồn bót và 2/3 bộ máy kìm kẹp của địch bị tan rã; tạo bước nhảy vọt cho cách mạng miền Nam.

Bị thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đưa nhiều cố vấn quân sự và vũ khí vào miền Nam Việt Nam, đẩy cường độ cuộc chiến tranh lên cao.

Để hỗ trợ mạnh mẽ cho đấu tranh chính trị và đẩy mạnh các hoạt động tác chiến đánh địch, nhằm đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy; tháng 2 năm 1961, Quân khu thành lập tiểu đoàn chủ lực đầu tiên với phiên hiệu Tiểu đoàn 261. Đến cuối năm 1963, thành lập thêm tiểu đoàn chủ lực thứ hai với phiên hiệu Tiểu đoàn 263. Các tỉnh đều có tổ chức lực lượng chiến đấu cấp tiểu đoàn. Phong trào du kích chiến tranh và lực lượng ba thứ quân của Quân khu phát triển mạnh, nhiều trận chiến đấu lớn xảy ra ngày càng khốc liệt, tỉ lệ bị thương, hy sinh của ta vì thế cũng tăng lên.

 Để đáp ứng yêu cầu điều trị, cứu chữa, phục vụ thương binh, bệnh binh và nhân dân ở chiến trường, đầu năm 1961, Khu ủy có chủ trương phát triển xây dựng ngành Quân, dân y lên một bước mới. Được sự chi viện một số y sĩ, y tá từ miền Bắc vào, Ban Quân, dân y Khu 8 được thành lập tại vùng Rừng Chồi, huyện Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp), do y sĩ Trương Đức Song làm Trưởng ban. Đến tháng 9 năm 1962, bác sĩ Trần Văn Trứ được tăng cường từ Bắc vào được giao làm Trưởng ban, đồng chí Trương Đức Song - Phó ban.

Do tình hình chiến trường bị chia cắt, căn cứ chưa ổn định, lực lượng chuyên môn vẫn còn thiếu, nên việc cứu chữa, điều trị thương binh, bệnh binh, Khu ủy giao cho các bệnh xá tỉnh, huyện đảm nhiệm theo khu vực. Sau thời gian đó, Ban Quân, dân y tổ chức một đội phẫu thuật phục vụ cho Tiểu đoàn 261.

Thời gian này, địch tập trung bình định cấp tốc, cường độ phi pháo và giao tranh giữa ta và địch rất ác liệt. Các cuộc càn quét có trực thăng, xe bọc thép, tàu thuyền, bộ binh và cố vấn Mỹ chỉ huy ngày càng tăng. Tình hình chiến trường đòi hỏi lực lượng dân y và quân y Khu 8 phải có những thay đổi cả về số lượng, chất lượng cũng như hiệu quả điều trị mới đáp ứng được nhiệm vụ.

Sang đầu năm 1963, để đáp ứng với yêu cầu phục vụ chiến đấu trên chiến trường, Quân khu thành lập Bệnh xá X11, đơn vị đóng tại Gò Kiến Vàng, Kênh 61, Đồng Tháp Mười, nằm trong đội hình Phòng Hậu cần Quân khu, đồng chí Tư Tính - y sĩ phụ trách Bệnh xá trưởng, quân số có 7 người: 1 y sĩ, 2 y tá, 4 cứu thương, có nhiệm vụ phục vụ quân, dân vùng 8 Kiến Tường và cơ quan Quân khu bộ.

Đến giữa năm 1963, Quân khu quyết định thành lập tiếp Bệnh xá X12 và Đội phẫu thuật X27. Bệnh xá X12 đóng tại Mỹ Hạnh Đông, Cai Lậy, Mỹ Tho; đồng chí Năm Bô - y tá làm Bệnh xá trưởng; quân số có 11 người: 2 y tá, 4 cứu thương, 5 phục vụ. Nhiệm vụ của Bệnh xá là điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh của các đơn vị hoạt động trên chiến trường Mỹ Tho và nhân dân trong vùng tuyến nam lộ 4 và bắc Cái Bè, Mỹ Tho.

Đội Phẫu X27 do y sĩ Nguyễn Thành Dân (Út Tâm) làm Đội trưởng, đồng chí Bảy Nhã làm Đội phó; quân số có 13 người: 2 y sĩ, 2 y tá, 4 cứu thương, 5 phục vụ. Đội có khả năng xử lý các trường hợp thương tích nặng tại chiến trường.

Sự ra đời các bệnh xá X11, X12 và Đội phẫu thuật X27 đã góp phần giải quyết khó khăn về tổ chức quân y tuyến trước, đây là nét độc đáo của công tác cứu chữa, điều trị, phục vụ thương binh, bệnh binh ở chiến trường đồng bằng sông nước và trên các địa bàn trọng điểm Khu 8. Đến thời điểm này, bước đầu đã định hình được phương pháp bảo đảm quân y cấp chiến thuật trên chiến trường.

Trong hai năm (1964-1965), Mỹ - ngụy ráo riết triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Về phía ta, lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển mạnh, quy mô tác chiến ngày càng lớn, nhất là bộ đội chủ lực, mức độ giao tranh trên chiến trường diễn ra vô cùng quyết liệt. trước sự phát triển của lực lượng vũ trang ta, ngành Quân y lại đứng trước những đòi hỏi mới là phải xây dựng hệ thống quân y đồng bộ từ Quân khu đến đơn vị. Tháng 1 năm 1965, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập Ban Quân y Quân khu và cơ sở quân y các cấp. Ban Quân y Quân khu do bác sĩ Trần Thanh Trà làm Trưởng ban; các bác sĩ Trần Văn Trứ, Nguyễn Công Thới, Lý Đức Song làm Phó ban.

Do các loại vũ khí địch sử dụng ngày càng đa dạng, phức tạp, tính sát thương cao, vì vậy cơ cấu của vết thương cũng thay đổi, nhất là các vết thương chuyên khoa mắt, răng, hàm, mặt. Vì vậy, đầu năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập Bệnh xá Chuyên khoa mắt X13, do y sĩ Ba Minh chỉ huy, đóng quân ở xã Mỹ Lợi, Cái Bè, Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), với quân số 10 đồng chí, triển khai 2 trại bệnh và 1 phòng mổ. Bệnh xá Chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt X20 do y tá Sáu Minh phụ trách, với quân số 10 đồng chí, tổ chức hai trại bệnh tại vùng Rạch Ruộng, Thành Hưng (huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho).

Cuối năm 1965, trước sự phát triển mới của lực lượng vũ trang Quân khu, 3 bệnh xá X12, X13, X20 được sáp nhập lại thành Bệnh viện X12A. Quân khu bổ nhiệm bác sĩ Nguyễn Công Thới làm Viện trưởng. Bệnh viện X12A biên chế gồm 3 đại đội đứng chân ở ba khu vực (Đại đội 1 ở Hội Cư, Đại đội 2 ở Cồn Bình Thạnh, Đại đội 3 rải dọc theo kênh Nguyễn Văn Tiếp A thuộc huyện Cái Bè, Mỹ Tho). Việc ra đời cơ sở quân y quy mô cấp bệnh viện vừa đáp ứng yêu cầu chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu, vừa ghi nhận sự trưởng thành, phát triển mạnh mẽ lực lượng quân y Quân khu 8.

Những năm 1966-1967, để tập trung củng cố lực lượng phục vụ các đối tượng khi chiến trường mở rộng, quân y Quân khu 8 được tổ chức hoạt động trên ba tuyến. Tuyến cơ bản đóng sát Bộ Tư lệnh Quân khu trong khu vực Khu uỷ ở Hồng Ngự. Khu trung tuyến ở vùng biên giới Kiến Tường, giáp Campuchia, cách tuyến cơ bản 30km. Quân y tiền phương thì theo sát cán bộ, chiến sĩ và đơn vị trực tiếp phục vụ chiến trường.

Cuối năm 1966, Xưởng Dược trực thuộc Quân khu được thành lập, do dược sĩ Nguyễn Văn Thanh phụ trách, đứng chân ở Tân Lèo, tỉnh Prây Veng (Campuchia) trên vùng biên giới Việt nam - Campuchia. Các cơ sở y dược của Quân khu có điều kiện phát triển thêm lực lượng, có thể sản xuất, pha chế được nhiều dược liệu cung cấp cho quân y đơn vị ở tuyến trước. Đồng thời đón nhận nuôi dưỡng và điều trị thương binh, bệnh binh từ tuyến trước chuyển về.

Do địch càn quét liên tục, công tác đảng, công tác chính trị hoạt động khó khăn. Vì vậy, khi tình hình chiến sự tạm lắng thì tranh thủ họp chi bộ, chính quyền, đoàn thể... Nhờ có sự chỉ đạo, động viên kịp thời đúng lúc nên từng đồng chí đã giữ vững quyết tâm, kiên định quan điểm, lập trường cách mạng, hết lòng phục vụ thương binh, bệnh binh, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác tuyên truyền, thi đua được phát huy có hiệu quả, với phương châm “Ngày không giờ, tuần không thứ, việc chưa xong phải cố gắng làm”[2], nhiều tấm gương sáng nổi lên, nhiều bài học kinh nghiệm về công tác tổ chức bảo đảm quân y trong thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm quân y tuyến vành đai diệt Mỹ đã được nhân rộng và áp dụng rất thành công ở chiến trường Quân khu 8. Điển hình là vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức (Mỹ Tho), căn cứ Bình Đức một trong những căn cứ quân sự mạnh của Mỹ - ngụy, chính nơi này quân và dân Khu 8 đã triển khai vành đai diệt Mỹ rất nổi tiếng tạo ra nhiều cá nhân và tập thể đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Quân y Quân khu cùng với quân y tỉnh Mỹ Tho tổ chức 6 trại tiếp nhận, nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh. Tại các chiến trường trọng điểm này, địch đánh phá rất ác liệt. Điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh trong điều kiện mật độ bom đạn dày đặc, địch càn quét thường xuyên liên tục, các cơ sở điều trị phải chia thành các bộ phận nhỏ gọn để dễ dàng cơ động. Có tuần để bảo đảm an toàn, ngày nào nhân viên quân y cũng vừa phải tổ chức gài mìn, đưa một lực lượng ra đánh địch chống càn bảo vệ trại bệnh, vừa phải dìu dắt, vận chuyển thương binh hết địa điểm này đến địa điểm khác.

Vượt qua khó khăn thử thách khắc nghiệt, phục vụ chiến đấu tại địa bàn trọng điểm, quân y Quân khu đã khai thác và phát huy cao nhất lực lượng của hệ thống tổ chức quân y nhân dân. Lực lượng vũ trang Quân khu tác chiến ở đâu, ngay tại đó tất cả các cơ sở y tế quân, dân y phối hợp hiệp đồng chặt chẽ trực tiếp phục vụ kịp thời cứu chữa thương binh, bệnh binh rất có hiệu quả. Gần như tất cả các cơ sở điều trị, trại bệnh của quân y nằm trong nhà dân. Khi tác chiến xảy ra, nhân dân tích cực chủ động vượt qua đạn bom, thậm chí cả trong vòng vây các cuộc càn quét của địch, tìm đến trận địa, trực tiếp tham gia băng bó, vận chuyển, chăm sóc cứu chữa, thương binh, bệnh binh tận tình chu đáo.

Đầu năm 1968, để quân y phục vụ tốt cho lực lượng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Quân khu quyết định thành lập Bệnh viện X12B trên cơ sở sáp nhập Bệnh xá X11 và Trường Quân y sĩ Quân khu do đồng chí Trần Phát Đạt phụ trách (Viện trưởng). Đây là bệnh viện cơ bản, tổ chức 3 khoa, gồm: Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa Cận lâm sàng. Tổ X quang của Bệnh viện gồm các y sĩ: Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Văn Nhờ, Lê Văn Hoàng. Đơn vị đóng quân tại Tân Lèo, tỉnh Prây Veng. Nhiệm vụ chính là thu dung, điều trị cho quân và dân vùng 8 Kiến Tường và Quân khu bộ.

Thời gian này, đồng chí Lã Ban (nguyên Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ Quân khu, khi trường sáp nhập với X11 thành X12B) được cấp trên điều động xuống cơ sở giúp đơn vị và sau đó trở về phụ trách Bệnh viện X12B, thay đồng chí Trần Phát Đạt xuống chiến trường Chợ Gạo, Gò Công, thành lập Bệnh xá X12C (7.1968) - đây là bệnh xá dã chiến theo bộ đội thọc sâu chiến trường rất gian khổ, ác liệt.

Hai đội phẫu thuật và Bệnh viện X12A phải bảo đảm điều trị thương binh, bệnh binh cho hai trung đoàn chủ lực của Quân khu thọc sâu[3]. Riêng Đội phẫu X27 của Trung đoàn 1 Đồng Tháp do bác sĩ Lê Tấn Bình (Ba Bình) - Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn làm Đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thành Dân (Út Tâm) - Đội phó. Đội phẫu X28 của Trung đoàn 2 Đồng Tháp do bác sĩ Trần Minh Phụng - Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn làm Đội trưởng.

Từ thực tiễn chiến đấu, bằng tri thức và những kinh nghiệm tổ chức lực lượng quân y và điều trị thương binh, bệnh binh ở chiến trường, Đội phẫu X27 đã nghiên cứu thành công 3 đề tài khoa học có giá trị thực tiễn cao, đó là “Khâu vết thương gan cải tiến”, “Bảo đảm quân y trong chống càn”,“Triển khai trạm phẫu ở đồng bằng”. Đặc biệt là đề tài “Khâu vết thương gan cải tiến” do bác sĩ Lê Tấn Bình - Chủ nhiệm đề tài, được báo cáo tại Hội nghị Quân y Miền và có giá trị khoa học cao[4]

Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) nổ ra khắp chiến trường miền Nam trong ba đợt: 1, 2, 3 và lực lượng quân y đã tổ chức lực lượng phục vụ trực tiếp cho 3 cánh quân: Đội phẫu X27 phục vụ Trung đoàn 1; Đội phẫu X28 phục vụ Trung đoàn 2; Đội phẫu tỉnh Mỹ Tho phục vụ Tiểu đoàn 514 và đội phẫu của Thành đội Mỹ Tho phục vụ cho lực lượng vũ trang Thành đội.

Trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, lực lượng quân y Quân khu đã phát huy cao độ vai trò quân y nhân dân, nêu cao tinh thần chiến đấu, dũng cảm vượt qua bom đạn dày đặc của kẻ thù, có lúc cán bộ, chiến sĩ quân y phải trực tiếp chiến đấu phá thế bao vây, phản kích của địch. Nhiều tấm gương chiến đấu, phục vụ chiến đấu đã xuất hiện, tiêu biểu là y sĩ Năm Đoàn thuộc X27; y sĩ Hai Gia, Tư Trầm - Quân y tỉnh Mỹ Tho; y sĩ Bảy Nhãn - X28...

Do nhiều nguyên nhân, có những trận đánh việc thực hiện kế hoạch hiệp đồng phối hợp giữa các lực lượng thiếu chặt chẽ; đánh giá chưa đúng tình hình; mục tiêu bị địch phản kích mạnh, lực lượng ta thương vong nhiều, cuộc tiến công và nổi dậy của ta chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra. Lực lượng quân y của Quân khu cũng chịu tổn thất chung, Đội phẫu X28 phục vụ cho mũi tiến công của Trung đoàn 2, quá trình chiến đấu thương binh đưa về nhiều, Đội đã quyết định tìm địa điểm ổn định để kịp thời cứu chữa thương binh, nhưng xa đội hình chiến đấu của đơn vị, không có lực lượng bảo vệ; khi địch phản kích, anh em quân y vừa tổ chức đánh trả, vừa cứu chữa thương binh. Song do lực lượng không cân sức, Đội đã bị tổn thất lớn, bác sĩ Hai Mai và 2 y tá bị địch bắt, 4 đồng chí khác hy sinh, một bộ đại phẫu và một số đồ dùng y cụ, thuốc men bị rơi vào tay địch.

Sự mất mát hy sinh của những người lính quân y Quân khu là một tổn thất lớn. Song, sự hy sinh anh dũng của y, bác sĩ... mãi mãi là tấm gương cao đẹp về lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về ý thức phục vụ cách mạng, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc, làm nên những trang sử vẻ vang, để lực lượng quân y Quân khu sau này nối tiếp truyền thống, vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khổ, viết tiếp trang sử hào hùng của quân y Quân khu 8 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những giai đoạn tiếp theo.

Do yêu cầu của chiến trường Gò Công, khoảng tháng 7 năm 1968 Quân khu thành lập Bệnh xá X12C. Bệnh xá đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Phòng Hậu cần Quân khu. Về tổ chức, đồng chí Trần Phát Đạt (Ba Đạt) được giao làm Bệnh xá trưởng, đồng chí Tám Long làm Bệnh xá phó. Lực lượng chuyên môn có 2 dược tá, 2 y tá, 10 cứu thương, sau đó bổ sung thêm 2 y sĩ; có 1 phòng mổ và 1 trại bệnh.

Quân khu quyết định đưa Bệnh xá X12C cơ động theo đội hình Trung đoàn 2 Đồng Tháp, cấp trên điều đồng chí Ba Tròn nhận nhiệm vụ Chính trị viên phó Bệnh xá, nhưng chưa về tới đơn vị thì hy sinh, đồng chí Hai Em được bổ sung thay thế. Đây là giai đoạn tổ chức chống càn quyết liệt của lực lượng quân y Quân khu[5]. Bằng ý chí và nghị lực phi thường, lực lượng quân y Quân khu vừa chiến đấu, vừa nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh với tất cả nhiệt tình, trách nhiệm cao nhất, đóng góp nhiều xương máu và công sức của mình cho sự nghiệp cách mạng, cùng với lực lượng vũ trang Quân khu vượt qua giai đoạn khó khăn gian khổ này.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân mở ra bước ngoặt lớn, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, chấp nhận ngồi vào bàn Hội nghị Pa-ri để đàm phán với ta, tìm giải pháp về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng tiếp tục lật lại thế cờ, nhằm đánh bại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Giai đoạn này, cục diện chiến trường hình thành thế “cài răng lược”, “da báo” giữa ta và địch. Trên địa bàn Khu 8, để phù hợp với cuộc chiến đấu chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, lực lượng quân y Quân khu được chia thành các cụm, vùng, phân viện, các đội điều trị và các cơ sở quân y được triển khai đi khắp các tỉnh, các đơn vị chủ lực hoạt động ở chiến trường, bám bộ đội, chống bình định lấn chiếm, hỗ trợ nhau về chuyên môn, chi viện cho nhau về vật chất, tinh thần.

Để kịp thời củng cố lực lượng quân y đáp ứng yêu cầu phục vụ cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu trước mắt cũng như lâu dài, được sự chi viện tăng cường lực lượng quân y của Bộ chỉ huy Miền, Bộ Tư lệnh Quân khu và Phòng Hậu cần tiến hành củng cố các tuyến quân y. Vì vậy, tổ chức biên chế các đơn vị quân y có thay đổi:

Đội phẫu X28 giải thể, bác sĩ Phạm Thanh Trà - Phó phòng Hậu cần Quân khu phụ trách quân y, đảm nhiệm phụ trách Bệnh xá X12C đóng ở huyện Chợ Gạo, phục vụ Trung đoàn 2 Đồng Tháp và Thành đội Mỹ Tho, nhưng gặp rất nhiều khó khăn, do vậy Quân khu cho chuyển về đóng quân ở vườn Bộ Khiết, thuộc xã Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre. Sau đó, Bệnh xá X12C giải thể, cán bộ, chiến sĩ chuyên môn được điều về sáp nhập vào Bệnh viện X12A tiền phương đang hoạt động ở chiến trường Mỹ Tho.

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ mới, Bệnh viện X12A tổ chức lại thành 3 bệnh xá lấy ký hiệu là Y1, Y2, Y3. Bệnh xá Y1, Y2 hoạt động trên địa bàn huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Bệnh xá Y1 do bác sĩ Trần Văn Dược (Tư Dược) làm Đội trưởng. Bệnh xá Y2 do bác sĩ Hai Nhã làm Đội trưởng. Bệnh xá Y3 do bác sĩ Trần Phát Đạt (Ba Đạt) làm Đội trưởng, hoạt động ở vùng 4 Kiến Tường (nay thuộc tỉnh Long An). Ban Quân y Quân khu, X12B, Trường Quân y sĩ, Xưởng Dược X9 đóng quân ở Tân Lèo.

Tháng 5 năm 1970, địch càn lớn vào cứ, bác sĩ Phạm Thanh Trà - Trưởng ban Quân y bị địch bắt, một số nhân viên hy sinh, bác sĩ Trần Văn Trứ được phân công làm Trưởng ban. Khi kết thúc lớp đào tạo bác sĩ khóa 4 của trường Miền (Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam) nhiều đồng chí bác sĩ mới ra trường được tăng cường về Ban Quân y Quân khu, như bác sĩ Lê Tấn Bình làm Viện trưởng Bệnh viện X12A; các bác sĩ Trần Văn Dược (Tư Dược) phụ trách Đại đội 1, bác sĩ Hai Nhã phụ trách Đại đội 2, bác sĩ Trần Phát Đạt phụ trách Đại đội 3, bác sĩ Hai Ca phụ trách Đại đội 4. Các đại đội được tăng cường bổ sung bác sĩ về chất lượng chuyên môn được nâng lên rất nhiều, nhưng do chiến trường bị chia cắt nên các đội điều trị hoạt động độc lập khó có điều kiện chi viện cho nhau được.

 Bệnh xá X12B đóng tại Xvây Riêng giáp biên giới Việt Nam - Campuchia, với nhiệm vụ điều trị thương binh, bệnh binh ở chiến trường miền Nam chuyển lên. Sau khi Mỹ - ngụy mở rộng chiến tranh ra ba nước Đông Dương, địa bàn hoạt động của lực lượng vũ trang Quân khu 8 rộng, tính chất nhiệm vụ và yêu cầu phục vụ của quân y rất cao, từ đó Quân khu chỉ đạo thành lập nhiều bệnh xá để đi sát đơn vị và các chiến trường. Quân khu quyết định tách Bệnh xá X12B để thành lập 8 bệnh xá mang phiên hiệu: K15A, K15B, K15C, K15E, K15G, K15H, K15Y, K15N.

Sau những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ba nước Đông Dương trong xuân hè 1971, cục diện chiến trường có những chuyển biến quan trọng, có nhiều thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Trên địa bàn Khu 8 từ cuối năm 1971 đến tháng 2 năm 1972, Khu uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo tích cực củng cố cơ sở, chuẩn bị mọi mặt cho đợt tiến công chiến lược năm 1972, mở rộng khu vực vùng 4 Kiến Tường để tạo bàn đạp và chuẩn bị cho Miền đưa lực lượng xuống mở chiến dịch tổng hợp quy mô lớn. Quân khu 8 mở đợt tiến công tổng hợp vào tháng 4 năm 1972 trên phạm vi ba tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong.

Để bảo đảm sức khỏe, cứu chữa thương binh, bệnh binh cho các đợt hoạt động này, cùng với lực lượng quân y Miền tăng cường, các đơn vị quân y của Quân khu 8 được tổ chức hết sức chặt chẽ và phù hợp, sát với lực lượng triển khai của ngành Hậu cần Quân khu ở chiến trường là sử dụng lực lượng quân y tại chỗ theo nguyên tắc chiến thuật hậu cần tại chỗ.

Nhìn chung chiến dịch tiến công tổng hợp ở Khu 8 giành được thắng lợi to lớn và tương đối toàn diện[6], góp phần quan trọng vào thắng lợi chung trên chiến trường Nam Bộ, làm chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh và góp phần quyết định buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo bước ngoặt về thế và lực có lợi cho cán cân so sánh lực lượng giữa ta và địch. Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản[7]. Kết quả và chiến công chung của chiến trường có sự đóng góp công sức, mồ hôi và cả xương máu của lực lượng quân y Quân khu.

Trong những năm tháng chịu đựng hy sinh, gian khổ và ác liệt ở chiến trường, lực lượng quân y Quân khu 8 luôn bám bộ đội, bám dân, bám chiến trường, ngoan cường dũng cảm trong chiến đấu trực diện với quân thù; trong cứu chữa, điều trị, bảo vệ, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh luôn đạt kết quả cao nhất. Điển hình như đợt 93 ngày đêm liên tục phục vụ chiến dịch tiến công tổng hợp năm 1972, quân y Quân khu 8 đã phối hợp với các tỉnh, huyện bảo đảm cứu chữa cho 10.064 thương binh, bệnh binh, trong đó có 8.669 thương binh, riêng hướng biên giới trên 1.100 thương binh. Tỉ lệ sử dụng giường bệnh lên tới 270%.

Tuy bị thất bại nặng nề buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri (27.1.1973) rút hết quân về nước, nhưng với bản chất ngoan cố, âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ đối với miền Nam Việt Nam chưa thay đổi. Đế quốc Mỹ đã chuẩn bị sẵn âm mưu phá hoại Hiệp định cho bọn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, vì thế chúng đã mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm vào vùng giải phóng của ta.

Ngay từ đầu tháng 1 năm 1973, Khu uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu đã bố trí lại lực lượng nhằm bẻ gãy các cuộc hành quân của địch ở nam lộ 4, vùng 20-7, ven Đồng Tháp Mười...

Để phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu trừng trị địch lấn chiếm vùng giải phóng, bảo vệ địa bàn, bảo vệ dân, lực lượng quân y Quân khu đã sắp xếp lại cho phù hợp tình hình và yêu cầu nhiệm vụ mới. Từ tháng 8 năm 1973, các bệnh xá phục vụ ở tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia thực hiện quyết định của Khu uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu, 8 bệnh xá gồm: K15A, K15B, K15C, K15E, K15G, K15H, K15Y, K15N, nay sáp nhập lại và thành lập Bệnh viện K20. Bệnh viện K20 là Bệnh viện đa khoa trung tâm đầu tiên của Quân khu 8, đảm nhiệm tuyến quân y cơ bản. Căn cứ đóng tại Bến Cầu, Tây Ninh. Bác sĩ Lê Tấn Bình - Viện trưởng, bác sĩ Đỗ Ngạc - Phó viện trưởng. Bệnh viện có Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa Sản, Chuyên khoa Răng- Hàm- Mặt, Khoa Cận lâm sàng, bảo đảm quy mô 600 giường bệnh.

Các đơn vị quân y ở tuyến trước như 4 đại đội quân y là Z18, Z15, C1, C24, 3 bệnh xá là Y5, Y6, Y7, 3 đội điều trị là Y1, Y2, Y3 và 2 đội điều trị (9, 10) vẫn giữ nguyên tổ chức biên chế, bảo đảm điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh trực tiếp trên các chiến trường Quân khu 8 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Cuối năm 1973 và những tháng đầu năm 1974, cục diện chiến trường đã có những chuyển biến to lớn, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam của nhân dân ta đang đi vào giai đoạn “đánh cho ngụy nhào” có lợi cho ta.

Để chuẩn bị lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, ngày 20 tháng 8 năm 1974, Bộ Tư lệnh Miền quyết định cho phép Quân khu 8 thành lập Sư đoàn bộ binh 8. Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu ra đời, đảm nhiệm chiến đấu trên hướng chủ yếu của Quân khu 8 là kênh Dương Văn Dương. Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 320 và Trung đoàn 24 mở rộng vùng giải phóng và hành lang giao thông từ Kênh Quận đến tây Kiến Bình thuộc vùng 4 Kiến Tường, mở rộng từ Kênh 3 Tháp Mười đến Kênh Bùi, Kênh 12, Thạnh Phú, Cai Lậy, Mỹ Tho; đồng thời căng kéo hai sư đoàn bộ binh ngụy là sư đoàn 7 và sư đoàn 9. Lúc này, Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu cũng được chuyển từ biên giới Campuchia về đứng chân ở chiến trường Mỹ Tho để thuận tiện cho việc lãnh đạo, chỉ huy. Toàn bộ lực lượng vũ trang Quân khu được bố trí để tạo thế và lực cho Quân khu bước vào thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân khu 8 được giao nhiệm vụ tổ chức 2 trung đoàn (24 và 88) mở một mũi tiến công vào hướng nam Sài Gòn, đánh chiếm các mục tiêu Tổng nha cảnh sát nguỵ và các đơn vị địch đóng phía nam Sài Gòn. Để bảo đảm phục vụ cứu chữa, vận chuyển thương binh, tử sĩ trong chiến dịch, Quân khu thành lập 2 đội phẫu, hình thành 2 cánh quân y đi theo các đơn vị thọc sâu vào nam Sài Gòn. Lực lượng quân y cơ bản tổ chức phục vụ cho Trung đoàn 320 và Trung đoàn 1 Đồng Tháp của Sư đoàn bộ binh 8 cắt đứt đường 4 và đánh chiếm căn cứ của sư đoàn 7, sư đoàn 9 ngụy tại căn cứ Đồng Tâm và khu kho Bình Đức, góp phần tích cực hỗ trợ quân, dân tỉnh Mỹ Tho giải phóng địa bàn trọng điểm của tỉnh là thành phố Mỹ Tho.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lực lượng vũ trang Quân khu tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ tiếp quản. Tháng 11 năm 1975, theo chủ trương của Đảng, Nhà nước điều chỉnh lại các Quân khu, tỉnh. Theo đó, Quân khu 8 và Quân khu 9 sáp nhập lại lấy phiên hiệu là Quân khu 9. Tình hình tổ chức biên chế chung của Quân khu có sự thay đổi lớn, các đơn vị quân y cũng có nhiều thay đổi, cả về tổ chức biên chế và yêu cầu nhiệm vụ.

Các bệnh xá, đội điều trị Y1, Y2, Y5, Y6, 9, 10 và K5 về tiếp quản Bệnh viện 3 dã chiến của ngụy ở Mỹ Tho, hình thành đơn vị mới với phiên hiệu Bệnh viện 12. Ban chỉ huy Bệnh viện 12 gồm các đồng chí: Phan Hồng Dân (Ba Dân) - Viện trưởng, Phạm Long Quang (Năm Minh) - Chính uỷ, Bùi Ngọc Em (Hai Em) - Phó Chính uỷ. Các đồng chí Viện phó gồm: Trần Phát Đạt (Ba Đạt), Phạm Văn Khởi (Ba Khởi).

Riêng Đội điều trị Y3 chuyển sang thành lập Tiểu đoàn quân y của Sư đoàn bộ binh 8.

Bệnh viện K20 đóng ở Bến Cầu, Tây Ninh về tiếp quản (khu Bệnh viện Quân y 120 hiện nay), vẫn giữ phiên hiệu Bệnh viện K20. Ban chỉ huy gồm các đồng chí: Trần Văn Nhã (Hai Nhã) - Viện trưởng, Trần Văn Dược (Tư Dược) - Chính uỷ, Trịnh Văn Ngoan (Bảy Bụng) - Phó Chính uỷ. Các đồng chí Viện phó gồm: Bùi Văn Chạch (Ba Chạch), Huỳnh Quang Minh (Tư Minh).

Năm 1977, do yêu cầu nhiệm vụ củng cố phát triển lực lượng quân y cho phù hợp với tổ chức biên chế Quân khu 9 (mới) nhằm bảo đảm sức khỏe cho các đơn vị trên địa bàn bắc sông Tiền, ngày 30 tháng 4 năm 1977, Bộ Tư lệnh Quân khu ra quyết định: Bệnh viện 12 giao lại Khu 3 dã chiến cho tỉnh Tiền Giang về sáp nhập với Bệnh viện K20 và lấy phiên hiệu là Viện Quân y 120 thuộc Cục Hậu cần Quân khu 9, đóng quân tại khu vực phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Đây là mốc son đánh dấu sự ra đời, phát triển, trưởng thành của Bệnh viện Quân y 120 ngày nay.

Nhìn lại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, cùng với quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long và Quân khu 8, lực lượng quân y Quân khu 8 đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc. Vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, quân y Quân khu 8 đã anh dũng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân và lực lượng vũ trang miền Trung Nam Bộ.

Ra đời từ lực lượng quân, dân y Khu 8, Viện Quân y 120 đã tích lũy được một số kinh nghiệm cứu chữa thương binh, bệnh binh trong phục vụ chiến đấu. Ngay từ những ngày đầu thành lập, từ một đội phẫu thuật của tiểu đoàn chủ lực thuộc Quân khu, hoạt động trong phạm vi nhỏ (năm 1962), đã mở rộng hình thành các đội điều trị cơ động dã chiến, phát triển thành các bệnh xá, bệnh viện và phục vụ tác chiến cấp trung đoàn (1965), cấp sư đoàn (từ 1972-1975).

Quá trình xây dựng, phục vụ chiến đấu và trưởng thành cùng lực lượng vũ trang Quân khu 8, lực lượng quân y đã phát huy tốt vai trò của quân y nhân dân trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Giai đoạn đầu thành lập, khi lực lượng vũ trang Quân khu tác chiến trên mỗi địa bàn, lực lượng quân y đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng dân y các cấp trong bất cứ hoàn cảnh nào. Toàn bộ cơ sở điều trị (từ các đội, bệnh xá, bệnh viện) đều dựa vào dân. Lấy nhà dân, ruộng vườn, nương rẫy của dân làm các trại nuôi dưỡng và điều trị thương binh, bệnh binh. Nhân dân không chỉ tham gia trực tiếp vận chuyển, điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh trong từng trận chiến đấu, mà còn là lực lượng chủ yếu nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh trong những giai đoạn khó khăn. Được nhân dân đùm bọc, thương yêu, lực lượng quân y Quân khu 8 đã xây dựng được trận địa căn cứ lòng dân liên hoàn vững chắc. Đây là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho lực lượng quân y Quân khu 8 tồn tại, trưởng thành và phát triển.

Phục vụ chiến đấu trên một địa bàn trọng điểm đánh phá của địch, điều kiện chiến trường dễ bị chia cắt, lại xa sự chi viện của Trung ương, lực lượng quân y Quân khu 8 đã nêu cao ý thức tự lực tự cường, vừa phát huy cao nhất sự giúp đỡ của lực lượng dân y các địa phương trên địa bàn và sự chi viện của quân y Miền, vừa chủ động đào tạo, bồi dưỡng xây dựng lực lượng. Quá trình nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh từ thực tiễn phục vụ chiến đấu của bộ đội trên chiến trường, người lính quân y Quân khu 8 tích cực tìm tòi sáng tạo, khai thác mọi tiềm năng nguồn thực vật, cây thuốc Nam quý hiếm và những kinh nghiệm bài thuốc dân gian trong nhân dân, kết hợp với Tây y để chữa trị kịp thời cho bộ đội, chăm sóc nuôi dưỡng tận tình chu đáo để nhanh chóng trả thương binh về đơn vị tham gia chiến đấu, đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào mỗi chiến công vẻ vang của lực lượng vũ trang Quân khu 8.

Ngành Quân y Quân khu 8 từ khi ra đời, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng ủy, Ban chỉ huy Phòng Hậu cần đã không ngừng củng cố, phát triển mạnh mẽ, đồng bộ vững chắc. Hệ thống quân y từ Quân khu đến các đơn vị, cơ quan, lực lượng vũ trang ba thứ quân vừa chăm lo củng cố hệ thống tổ chức quân y từ trên xuống dưới, vừa củng cố phát triển các cơ sở điều trị, các trại thương binh, bệnh binh phù hợp với điều kiện địa hình, thời tiết, thực tiễn ở chiến trường (tổ chức thành công quân y các tuyến và hình thành chiến thuật quân y ở cấp chiến thuật và chiến dịch). Chính qua thực tiễn thời kỳ chống Mỹ, lực lượng quân y Quân khu 8 đã góp phần hoàn thiện chiến thuật quân y cấp chiến thuật, chiến dịch trong các loại hình tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân ta.

Chiến đấu và phục vụ chiến đấu với một kẻ thù vừa có trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, vừa có nhiều âm mưu thủ đoạn thâm độc trên mảnh đất là trọng điểm đánh phá của địch trong suốt cả thời kỳ chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên đất nước ta, lực lượng quân y Quân khu 8 đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để cứu chữa thương, bệnh binh bảo đảm sức khỏe để bộ đội chiến đấu. Lực lượng quân y càng trong lúc khó khăn gian khổ càng thể hiện tình yêu thương đồng đội, tinh thần phục vụ hết lòng, bằng bản lĩnh và trách nhiệm chính trị, y đức, y thuật của người cán bộ, chiến sĩ, phục vụ ngành y trong các lực lượng vũ trang Quân khu. Từ những cán bộ quân y không kể tuổi đời, học hàm, học vị đến các đồng chí mới bước vào nghề đã dũng cảm trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Dù ở chiến trường hay ở hậu phương, qua những năm tháng chiến tranh đầy khó khăn gian khổ, người lính quân y Quân khu 8 đã  khắc họa nên hình ảnh cao đẹp và xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Đồng thời làm phong phú sâu sắc thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long.

 

 

 

 

Chương hai

VIỆN QUÂN Y 120 THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

TẠI ĐỊA BÀN QUÂN KHU VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

GIÚP BẠN CAMPUCHIA (4.1977 - 12.1989)

       

I. ỔN ĐỊNH TỔ CHỨC BIÊN CHẾ, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ MỚI

Sau khi sáp nhập Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đóng quân ở khu Bình Đức (Mỹ Tho). Đây là căn cứ của Trung đoàn bộ binh 11 sư đoàn 7 ngụy, nằm trải rộng trên một diện tích khoảng 10 héc-ta, gồm một số trại lính, nhà kho mái lợp bằng tôn (tole) hoặc Phi-brô-xi-măng (Fibrocement). Ngoài một số nhà được Bệnh viện K20 tiếp quản từ sau giải phóng sửa chữa lại để ở và làm nơi điều trị, còn lại các nhà khác tạm thời bỏ hoang cỏ mọc um tùm.

Trước thực trạng đó, Ban chỉ huy Viện đã chỉ đạo các khoa, ban làm công tác tư tưởng, động viên đội ngũ cán bộ, nhân viên, thương binh, bệnh binh an tâm tư tưởng, khắc phục khó khăn ban đầu, cùng nhau ổn định nơi ăn, ở, làm việc. Công việc đầu tiên là tổng vệ sinh doanh trại, dọn dẹp tới đâu thì đưa bệnh nhân, cán bộ, nhân viên vào ở tới đó.

Hệ thống doanh trại từ khoa này đến khoa kia không liên hoàn, đất nơi đây trũng thấp, mưa xuống đều bị ngập lụt, cơ sở hạ tầng điện, nước chưa hoàn chỉnh, nước ăn uống sinh hoạt lúc đầu phải đi chở từ nơi khác về... ảnh hưởng rất lớn đến việc phục vụ bệnh nhân. Tuy nhiên, với tinh thần trách nhiệm, y đức của người thầy thuốc, đội ngũ y, bác sĩ của Viện đã vượt qua thử thách ban đầu, an tâm khắc phục mọi khó khăn thực hiện nhiệm vụ.

Tổ chức biên chế của Viện khi mới thành lập, Ban chỉ huy gồm: bác sĩ Huỳnh Văn Sổ (Hai Sổ) - Viện trưởng; đồng chí Trần Văn Dược (Tư Dược) là Chính ủy và Phó Chính ủy là hai đồng chí Trần Quốc Thống, Trịnh Văn Ngoan (Bảy Bụng). Các đồng chí Viện phó là: bác sĩ Trần Phát Đạt (Ba Đạt), bác sĩ Phạm Sỹ Phu (Tư Phu), Phạm Văn Khởi (Ba Khởi), Bùi Văn Chạch (Ba Chạch). Khối cơ quan gồm: Ban Y vụ do y sĩ Nguyễn Tấn Tài phụ trách. Ban Chính trị do đồng chí Bùi Ngọc Em – Trương ban (Chủ nhiệm Chính trị), Ban Hành chính đồng chí Quang Thừa Vũ - Trưởng ban, Ban Hậu cần do đồng chí Hai Xê – Trưởng ban (Chủ nhiệm Hậu cần), Ban Dược do đồng chí Đoàn Văn Cương - Trưởng ban, Phòng Khám do bác sĩ Năm Y phụ trách.

Khối điều trị, chủ nhiệm các khoa gồm: Khoa Nội 1 (tim mạch) do bác sĩ Võ Tấn Minh (Năm Minh) - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 2 (tiêu hóa) do bác sĩ Dương Thị Tiến - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 3 (thần kinh) do bác sĩ Nguyễn Trọng Đồng - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 4 (truyền nhiễm - lao) do bác sĩ Mai Xuân Ánh - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Y học dân tộc do bác sĩ Trương Minh Châu - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Cấp cứu hồi sức do bác sĩ Nguyễn Khắc Nhường - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Ngoại 1B (chấn thương) do bác sĩ Đoàn Văn On - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt do bác sĩ Nguyễn Hữu Liên - Chủ nhiệm Khoa (sau lập thêm các khoa Mắt, Tai - Mũi - Họng); Phòng Mổ do bác sĩ Trương Thanh Tây - Trưởng phòng, Khoa X quang do y sĩ Phạm Minh Hoàng phụ trách, Khoa Xét nghiệm do y sĩ Nghiêm Khắc Sửu phụ trách, Khoa Lý liệu do y sĩ Ba Châu phụ trách, Hội đồng Giám định y khoa do bác sĩ Nguyễn Quang Minh phụ trách.

Về tổ chức đảng: Viện tổ chức thành một đảng bộ cơ sở 2 cấp, có 10 chi bộ trực thuộc, gồm: Chi bộ Phòng khám, Y vụ; Chi bộ Hành chính, Chính trị; Chi bộ Hậu cần; Chi bộ Dược; Chi bộ Cận lâm sàng: X quang, Lý liệu, Xét nghiệm; Chi bộ Cấp cứu hồi sức, Phòng mổ; Chi bộ Ngoại 1A, 1B; Chi bộ Chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt; Chi bộ Nội 1, Nội 2, Y học dân tộc; Chi bộ Nội 3 và Nội 4.

Đảng ủy Viện được trên chỉ định gồm: đồng chí Trần Văn Dược - Bí thư, đồng chí Huỳnh Văn Sổ - Phó Bí thư. Các đồng chí Ủy viên Thường vụ: Trần Quốc Thống, Trần Phát Đạt, Phạm Văn Khởi. Các đồng chí Đảng ủy viên: Nguyễn Khắc Nhường, Bùi Ngọc Em, Hồ Văn Xê, Mai Xuân Ánh, Nguyễn Quang Minh, Đoàn Văn On, Trương Thanh Tây, Năm Y. Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy khi mới thành lập Đảng bộ Viện có 5 đồng chí, do đồng chí Trần Văn Dược - Bí thư Đảng ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra.

Về tổ chức đoàn: Toàn Viện có 9 chi đoàn trực thuộc Đoàn cơ sở, gồm: Chi đoàn Phòng khám, Y vụ, Dược; Chi đoàn Chính trị, Hành chính; Chi đoàn Hậu cần; Chi đoàn Cận lâm sàng; Chi đoàn Cấp cứu hồi sức, Phòng Mổ; Chi đoàn Ngoại 1A, 1B; Chi đoàn Chuyên khoa; Chi đoàn Nội 1, Nội 2; Chi đoàn Nội 3, Nội 4. Ngoài ra, còn tổ chức ra các Hội đồng quân nhân để thực hiện 3 quyền dân chủ (chính trị - chuyên môn - kinh tế) của cán bộ, nhân viên, thương binh, bệnh binh của Viện. Quân số của Viện khi mới thành lập là 140 đồng chí.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của Viện từ Ban chỉ huy đến các khoa, ban phần lớn là những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, dày dặn về kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ; tinh thần trách nhiệm cao, đều trưởng thành từ thực tiễn phục vụ y tế chiến trường... Đây là những thuận lợi rất cơ bản, nhân tố chủ yếu để xây dựng Viện phát triển và trưởng thành.

Tuy nhiên, Viện được thành lập trong lúc cả nước nói chung, miền Nam nói riêng đang ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục lại đất nước sau 30 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng thời, cũng vào đúng thời kỳ tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam lên một bước mới với tính chất ngày càng phức tạp, quy mô ngày càng rộng, cường độ ngày càng cao. Quân khu vừa mới được sáp nhập hơn một năm, đang phải giải quyết hậu quả sau khi sáp nhập về tư tưởng, tổ chức và ổn định tình hình, trong khi phải thực hiện chủ trương giảm quân số thường trực để phù hợp với chủ trương xây dựng Quân đội trong thời bình.

Lực lượng vũ trang Quân khu lúc này đang tập trung cho nhiệm vụ lao động sản xuất xây dựng kinh tế, chiến đấu chống lại hành động xâm lược của bọn phản động Pôn Pốt- Iêng Xari, bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc, đồng thời tiếp tục truy quét tàn quân ngụy, giúp cấp ủy, chính quyền, nhân dân củng cố xây dựng chính quyền mới, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định cuộc sống... Mặt khác, do hậu quả của chiến tranh, tình hình kinh tế - chính trị của đất nước đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức, tình hình lương thực, thực phẩm thiếu một cách trầm trọng, đời sống nhân dân gặp phải nhiều khó khăn. Trong khi đó, kẻ thù trong và ngoài nước cấu kết với nhau đang ra sức phá hoại với nhiều âm mưu, kế hoạch hoạt động chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước ta. Một loạt các vấn đề về chính sách xã hội khác đặt ra cần được quan tâm giải quyết sau chiến tranh... đã tác động không nhỏ đến tâm tư, đời sống của lực lượng vũ trang Quân khu nói chung, cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện nói riêng.

Khi mới thành lập, Viện phải tập trung giải quyết số cán bộ dôi dư so với biên chế mới. Tuy nhiên, do sự khó khăn từ phía gia đình, xã hội và bản thân nên một số cán bộ, nhân viên trong Viện đã có biểu hiện thiếu an tâm tư tưởng, trông chờ, ỷ lại, chểnh mảng trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách. Một số đồng chí tuổi cao, năng lực chuyên môn nghiệp vụ hạn chế, thấy mình khả năng không phát triển được đã làm đơn xin nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành sang lĩnh vực khác.

Trước tình hình đất nước, Quân đội, lực lượng vũ trang Quân khu và thực trạng của Viện, Đảng ủy, Ban chỉ huy Viện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường học tập, quán triệt Nghị quyết số 24 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III) về “Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, Nghị quyết số 250/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Quân đội làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế”. Về mục đích thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước: Quân đội giảm quân số thường trực, tăng cho lực lượng dự bị động viên và lao động sản xuất xây dựng kinh tế. Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu về “Công tác quân sự năm 1977”; Nghị quyết lãnh đạo của Cục Hậu cần Quân khu, quán triệt thực hiện tốt “4 xây, 4 chống, 4 chấm dứt”, cụ thể là: xây dựng tinh thần cách mạng và ý chí tiến công, xây dựng quan điểm phục vụ đúng đắn, xây dựng phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, xây dựng ý thức ham học cầu tiến bộ; chống tư tưởng thỏa mãn dừng lại, chống tư tưởng cá nhân, chống tự do vô kỷ luật, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, chống quan liêu xa rời quần chúng; chấm dứt tham ô hủ hóa, chấm dứt nhậu nhẹt bê tha, chấm dứt phát ngôn bừa bãi, chấm dứt gây gổ mất đoàn kết.

Đảng ủy ra nghị quyết lãnh đạo xác định rõ nhiệm vụ là xây dựng Viện trở thành Viện tuyến cuối loại B, phục vụ ngày càng tốt hơn lực lượng vũ trang các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Long An (tháng 8.1978, Long An cắt về Quân khu 7) và các đơn vị vũ trang Quân khu đóng trong địa bàn khu vực bắc sông Tiền; sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Đồng thời, tăng cường các biện pháp lãnh đạo giáo dục chính trị tư tưởng, kết hợp thực hiện tốt các chế độ, chính sách xã hội, phát động các phong trào thi đua, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia lao động sản xuất. Phát huy tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ, tự lực tự cường, ý thức sáng tạo... qua đó đã góp phần ổn định tình hình tư tưởng của bộ đội, các biểu hiện tiêu cực được khắc phục, khó khăn ban đầu từng bước được tháo gỡ, Bệnh viện dần dần đi vào ổn định, từng bước thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Về mặt vật chất kỹ thuật, trang, thiết bị ban đầu, ngoài số dụng cụ y tế thông thường mang từ chiến khu về và tiếp quản từ Bệnh viện 3 dã chiến của ngụy để lại, Viện có thêm 1 máy X quang, 1 máy giặt, một cơ sở xét nghiệm cũng chỉ làm được những xét nghiệm thông thường và một ít trang thiết bị phòng mổ dã chiến. Tất cả những trang, thiết bị đều là chiến lợi phẩm. Tình hình trang, thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của một bệnh viện tuyến cuối loại B.

Để nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân, đồng thời cải thiện một bước đời sống sinh hoạt cho cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ của Viện, Quân khu đã phân bổ kinh phí đầu tư xây dựng một số công trình với quy mô bán dã chiến: 1 phòng cấp cứu với 10 giường, 1 phòng mổ với 1 buồng mổ vô trùng, 1 buồng mổ hữu trùng, 1 phòng X quang, 1 kho dược liệu, 1 phòng họp cho Ban chỉ huy. Đồng thời, cải tạo nâng cấp một số nhà ở của cán bộ, nhân viên, trại bệnh bằng cách lợp ngói hoặc Phi-brô-xi-măng thay cho tôn, xây dựng tường thay vách tôn, đóng trần bằng cót ép để chống nóng, sửa chữa nâng cấp một số cơ sở hạ tầng cơ bản, như hệ thống điện, hệ thống đường sá giao thông trong Viện... đủ sức thu dung điều trị khoảng 300 giường bệnh.

Vượt qua những khó khăn thiếu thốn ban đầu khi mới thành lập, song song với việc làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức, xác định quyết tâm, Viện đã tích cực củng cố nơi ăn, ở. Đội ngũ cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ đã tận dụng tối đa những cơ sở vật chất của ngụy để lại, phát huy hiệu quả sự chi viện, giúp đỡ của trên để phục vụ cho việc thu dung điều trị, bảo quản dược liệu, dụng cụ y tế... Lúc đầu phòng mổ chưa có, Viện phải tận dụng nhà kho căng mùng bên trong làm phòng mổ dã chiến, chất lên mái tôn nhiều tầng, nhiều lớp “chất bổi” để chống bức xạ nhiệt, chống nóng, bảo vệ kho dược liệu, dụng cụ y tế. Chính vì tinh thần dám nghĩ, dám làm, khắc phục khó khăn, tự lực sáng tạo mà Viện đã hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời kỳ đầu mới thành lập.

II. XÂY DỰNG VIỆN TRƯỞNG THÀNH VỮNG MẠNH, GÓP PHẦN PHỤC VỤ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ GIÚP BẠN CAMPUCHIA (1977 - 1989)

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, niềm vui chưa trọn thì tập đoàn phản động Pôn Pốt- Iêng Xari thi hành chính sách chống Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1977, chúng chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta. Ngày 20 tháng 4 năm 1978[8], chúng gây tội ác dã man giết chết nhiều người, cướp của, đập phá chùa chiền, nhà thương, trường học, gây bao đau thương tang tóc cho đồng bào ta trên tuyến biên giới Tây Nam.

Mặc dù Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã kiên trì đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị với các nước láng giềng, tích cực đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc bằng con đường thương lượng nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng với bản chất cực kỳ phản động, tập đoàn Pôn Pốt- Iêng Xari bằng các hành động xua quân tràn qua biên giới cướp của, giết người, lấn chiếm đất đai, nhổ cột mốc biên giới, tung tin bịa đặt gây chia rẽ mất đoàn kết, công khai cắt đứt mối quan hệ đoàn kết có từ lâu đời giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia... Tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêng Xari đã buộc quân và dân ta phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam kéo dài hơn 3 năm (5.1975 - 12.1978).

Không chỉ ở biên giới Tây Nam mà ở biên giới phía Bắc, những năm 1977 - 1979 cũng diễn ra hành động khiêu khích và phát động chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Quân và dân ta cùng lúc phải chống chọi với cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước, đồng thời phải chuyển trạng thái từ hòa bình sang chiến tranh. Cái sống, cái chết, cái khó khăn thiếu thốn cùng lúc đè nặng lên đôi vai của mỗi người dân, của cả dân tộc, đã tác động đến tâm tư tình cảm của mỗi con người, trong đó có lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Viện Quân y 120.

Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Quân khu tiến hành điều chỉnh lại lực lượng, chuyển nhiệm vụ từ lao động sản xuất xây dựng kinh tế là chính sang nhiệm vụ chiến đấu. Thời gian này, Quân khu đã chuyển Sư đoàn bộ binh 4, Sư đoàn bộ binh 8 từ thường trực lao động sản xuất xây dựng kinh tế sang làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu; thành lập Sư đoàn bộ binh 330 (9.1976) và Sư đoàn bộ binh 339 (3.1978); củng cố và thành lập mới một số đơn vị bộ binh và binh chủng trực thuộc Quân khu, tăng cường lực lượng vũ trang trong nội địa và cho các tỉnh dọc biên giới. Giao nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu cho các đơn vị với khẩu hiệu hành động “Tất cả cho chiến thắng cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam”.

Ngày 9 tháng 5 năm 1977, tức sau 9 ngày tập đoàn Pôn Pốt gây ra thảm họa đêm 30 tháng 4 năm 1977 dọc biên giới An Giang, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp, sau khi phân tích tình hình biên giới, địch, ta đã ra quyết định mở đợt tiến công hiệp đồng binh chủng đánh địch trên tuyến biên giới tỉnh An Giang. Cùng với việc thành lập Sở chỉ huy Tiền phương Quân khu, Tiền phương Cục Hậu cần, Viện Quân y 120 đã tổ chức ra một đội phẫu thuật gồm 20 cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ, biên chế 50 giường bệnh, đóng tại đình Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, do đồng chí Hai Hùng - bác sĩ của Viện làm Đội trưởng. Cùng thời gian này, Viện Quân y 121(Quân khu 9) cũng được giao tổ chức ra một đội phẫu gồm 24 cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ, biên chế 50 giường bệnh, đóng tại đình Kiên Lương, thị trấn Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Hai đội phẫu thuật đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Tiền phương Cục Hậu cần, có nhiệm vụ phục vụ bộ đội đánh địch lấn chiếm biên giới. Để có nơi ăn ở, làm việc, Đội phẫu phải dựa vào dân, phải căng thêm lều bạt, cất nhà tạm. Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng với tinh thần trách nhiệm và y đức của người thầy thuốc, mọi khó khăn đã được giải quyết. Công tác điều trị xử lý sơ cứu vết thương ban đầu bảo đảm an toàn, không để xảy ra những trường hợp đáng tiếc do chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm, mặc dù có những lúc thương binh dồn về đông, cơ sở vật chất, kỹ thuật có hạn, lực lượng mỏng. Để tránh tình trạng thương binh quá tải, Đội phẫu thuật đã thực hiện phương án thu hẹp phạm vi cứu chữa, nhanh chóng chuyển ngay thương binh về tuyến sau điều trị, không để chờ đông thương binh mới chuyển nhằm bảo toàn tính mạng cho thương binh. Song song với việc sơ cứu ban đầu cho thương binh, Đội phẫu thuật đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với quân y các đơn vị thực hiện tốt việc vệ sinh phòng dịch, điều trị những bệnh thông thường, hướng dẫn chăm sóc nâng cao sức khỏe cho bộ đội.

Những tháng cuối năm 1977 và năm 1978, khi cuộc chiến tranh bảo vệ  Tổ quốc ở biên giới Tây Nam diễn ra ngày càng ác liệt, lực lượng vũ trang Quân khu đóng dọc biên giới thường xuyên phải chiến đấu chống lại hành động xâm lược của kẻ thù. Thời gian này, thương binh dồn về đông, nhất là trong những đợt ta mở chiến dịch tiến công quân địch. Đội phẫu thuật phía trước chỉ đủ sức thu dung, cấp cứu vài chục ca, có lúc quá tải, không đủ sức chứa. Để nâng cao chất lượng điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh, tháng 7 năm 1977 Đội phẫu thuật của Viện Quân y 120 và của Viện Quân y 121 sáp nhập lại, được bổ sung thêm người và phương tiện, nâng cấp thành Đội điều trị 1, quy mô thu dung điều trị 100 giường bệnh.

Do yêu cầu nhiệm vụ, cuối năm 1977, Đội điều trị 1 được tách ra thành Đội điều trị 1 và 2. Đội điều trị 1 dung lượng 150 giường, đóng tại đình Mỹ Đức (Châu Phú, An Giang), do bác sĩ Trần Văn Tuấn (Năm Tuấn) của Viện Quân y 120 làm Đội trưởng, đến năm 1983 bác sĩ Trần Thanh Quang (Bảy Quang) thay làm Đội trưởng, đồng chí Bùi Ngọc Em - Chính trị viên. Đội điều trị 2 dung lượng 150 giường, đóng tại đình Kiên Lương (Kiên Giang), do bác sĩ Phạm Tương Lai của Viện Quân y 120 làm Đội trưởng, đến năm 1979 bác sĩ Phạm Văn Khởi (Ba Khởi) - Viện phó Viện Quân y 120 kiêm Đội trưởng.

Nhiệm vụ của hai đội điều trị là thu nhận trực tiếp thương binh, bệnh binh của các đơn vị tuyến trước đưa về, tiếp nhận các ca thương binh, bệnh binh của quân y các đơn vị tuyến dưới chuyển lên; điều trị tại chỗ những ca nhẹ, xử lý cơ bản vết thương những ca nặng và chuyển về tuyến sau những ca trung bình và nặng vượt quá khả năng điều trị. Thời kỳ đầu mới thành lập, Đội điều trị gặp khó khăn về nơi ăn ở, thiếu thốn về cơ sở vật chất, phương tiện, song Quân khu từng bước bổ sung đội ngũ chuyên môn, đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho các đội điều trị thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam.

Trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt ở biên giới Tây Nam thì các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long lại xảy ra thiên tai lớn, đó là trận lụt lịch sử năm 1978, đây là trận lụt hàng trăm năm nay chưa hề có. Thiên tai, địch họa tấn công ta cùng một lúc, khó khăn lại chồng lên khó khăn. Để góp phần khắc phục thiên tai lũ lụt, các đội điều trị đã tham gia cùng y tế địa phương khám, cấp thuốc điều trị cho nhân dân, ngăn chặn, khống chế phát sinh lây lan các ổ dịch... góp phần giảm bớt khó khăn cho nhân dân vùng lũ. Qua đó, các chiến sĩ quân y Viện 120 đã để lại hình ảnh đẹp của người thầy thuốc Quân đội trong lòng nhân dân.

Đội hình chính của Viện vẫn ở Bình Đức - Mỹ Tho, 6 tháng cuối năm 1977 và năm 1978, cùng với việc tiếp tục củng cố nơi ăn ở, ổn định tổ chức biên chế, xây dựng đơn vị về mọi mặt, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, y đức... Để đáp ứng yêu cầu phục vụ điều trị cho thương binh, bệnh binh ở tuyến trước đưa về, Viện tiếp tục cải tạo một số trại lính ngụy cũ để làm nơi ở điều trị cho thương binh, bệnh binh, nâng dung lượng thu dung điều trị từ 300 giường lên 450 giường. Lãnh đạo, chỉ huy Viện rất quan tâm đến công tác xây dựng tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ y, bác sĩ, cán bộ, công nhân viên nhằm sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu thương binh, bệnh binh kịp thời, nhanh chóng, không kể ngày đêm, điều trị tận tình chu đáo, coi thương binh, bệnh binh như người thân ruột thịt của mình. Kết quả, những năm tham gia phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, Viện Quân y 120 đã thực hiện tốt công tác cứu chữa, điều trị thương binh, bệnh binh, góp phần xứng đáng cùng lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.

 Quán triệt Nghị quyết số 250-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Nghị quyết Đảng ủy Quân khu và Đảng ủy Cục Hậu cần về Quân đội làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, để góp phần cải thiện đời sống cho cán bộ, y, bác sĩ, nhân viên phục vụ trong Viện, Ban chỉ huy Viện đã tổ chức tăng gia sản xuất trồng lúa và chăn nuôi ở Đồng Tháp. Cơ sở tăng gia sản xuất này bước đầu có nguồn thu tương đối khá.

Về tổ chức biên chế, cuối năm 1977 và năm 1978 do yêu cầu của tổ chức, nhân sự Ban chỉ huy Viện có sự thay đổi: Đồng chí Huỳnh Văn Sổ - Viện trưởng được điều về công tác tại Đoàn 44 (Đoàn an dưỡng của Quân khu), bác sĩ Trần Văn Lư (Ba Lư) về thay đồng chí Sổ làm Viện trưởng, đồng chí Trần Văn Dược - Chính ủy Viện được điều về Đội Nuôi trồng dược liệu (sau này đổi tên là Xí nghiệp 408, nay là Trung tâm Nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến dược liệu Quân khu 9) làm Đội trưởng, đồng chí Trần Trung Hiếu được bổ nhiệm làm Chính ủy Viện. Các đồng chí Phạm Sỹ Phu, Trịnh Văn Ngoan được điều đi nhận nhiệm vụ ở đơn vị khác. Bác sĩ Nguyễn Khắc Nhường được bổ nhiệm Viện Phó. Như vậy, Ban chỉ huy Viện lúc này gồm: bác sĩ Trần Văn Lư - Viện trưởng, đồng chí Trần Trung Hiếu - Chính ủy, đồng chí Trần Quốc Thống - Phó Chính ủy. Các đồng chí Viện phó gồm: bác sĩ Trần Phát Đạt phụ trách Y vụ; bác sĩ Phạm Văn Khởi phụ trách Nội khoa; bác sĩ Nguyễn Khắc Nhường phụ trách Ngoại khoa. Các khoa, ban, tổ chức chi bộ, chi đoàn cơ bản ổn định như thời kỳ đầu mới thành lập Viện.

Thực hiện kế hoạch hướng dẫn của Cục Hậu cần, năm 1978 Đảng ủy, Ban chỉ huy Viện đã tổ chức phát động trong toàn Viện thực hiện Cuộc vận động của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân”. Cuộc vận động đã thu hút 100% cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên các phòng, ban trong Viện tham gia đăng ký thi đua thực hiện tốt nội dung mục tiêu đề ra.

Năm 1978, Đảng bộ Viện tiến hành tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 1978-1980. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá kết quả lãnh đạo Viện từ khi mới thành lập, đề ra phương hướng, nhiệm vụ lãnh đạo nhiệm kỳ 1978-1980. Trọng tâm là tập trung lãnh đạo xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Viện vững mạnh toàn diện, trở thành Viện tuyến cuối loại B của Quân khu, thực hiện tốt nhiệm vụ thu dung, điều trị nâng cao sức khỏe lực lượng vũ trang các tỉnh bắc sông Tiền và thương binh, bệnh binh trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 13 đồng chí. Đồng chí Trần Trung Hiếu được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Văn Lư  được bầu làm Phó Bí thư; các đồng chí là Ủy viên Thường vụ: Trần Quốc Thống, Trần Phát Đạt, Phạm Văn Khởi; các đồng chí Đảng ủy viên: Nguyễn Khắc Nhường, Mai Xuân Ánh, Hồ Văn Xê, Bùi Ngọc Em, Đoàn Văn On, Trần Quang Mỹ, Trương Thanh Tây, Nguyễn Minh Quang. Đại hội bầu Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy gồm 5 ủy viên, do đồng chí Trần Trung Hiếu làm Chủ nhiệm.   

Cuối năm 1978, mọi hành động xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đã bị ta trừng trị đích đáng. Mâu thuẫn giữa nhân dân Campuchia với tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêng Xari càng trở nên trầm trọng. Những người tiến bộ trong Khơme Đỏ có tinh thần yêu nước đã nhận rõ bản chất diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xari cùng nhân dân Campuchia đã nổi dậy tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm lật đổ chế độ độc tài Pôn Pốt-Iêng Xari ngày càng trở nên mạnh mẽ. Tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã ra lời tuyên bố: “... Tha thiết kêu gọi nhân dân và chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức dân chủ trên thế giới đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội hãy tích cực ủng hộ và giúp đỡ mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân chúng tôi...”[9].

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) tiến hành Hội nghị lần thứ 4, xác định kẻ thù trực tiếp nguy hiểm trước mắt, kẻ thù cơ bản lâu dài của cách mạng Việt Nam, xác định giúp Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia lật đổ chế độ độc tài Pôn Pốt-Iêng Xari, cứu dân tộc và đất nước thoát khỏi họa diệt chủng là nhiệm vụ quốc tế cao cả của toàn quân, toàn dân ta.

Đáp lại lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, ngày 23 tháng 12 năm 1978, lực lượng vũ trang Quân khu 9 cùng với các đơn vị trong toàn quân và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổ chức phản công chiến lược, tiêu diệt chế độ phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, thủ đô Phnôm Pênh - Campuchia được giải phóng, chính quyền mới được thiết lập. Tiếp sau đó là cả một quá trình suốt một thập kỷ Quân tình nguyện Việt Nam vừa chiến đấu truy quét tàn quân địch, vừa cứu đói, cứu đau, giúp chính quyền, nhân dân Bạn phục hồi và xây dựng cuộc sống mới.

Căn cứ vào nhiệm vụ quân sự của Quân khu: Phải đánh đuổi địch ra khỏi biên giới, đồng thời giúp cách mạng Campuchia tiến lên giải phóng đất nước thoát khỏi thảm họa diệt chủng, hồi sinh dân tộc, xây dựng đất nước, Quân y Quân khu 9 xác định nhiệm vụ:

Bảo đảm quân y cho các lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu trong chiến dịch tiến công. Hậu cần Quân khu huy động mọi khả năng phương tiện sẵn có trên cơ sở kết hợp chặt chẽ quân, dân y và tranh thủ sự giúp đỡ của các ngành để tổ chức cứu chữa, vận chuyển kịp thời thương binh ở các tuyến chiến đấu của các đơn vị thuộc Quân khu, đồng thời bảo đảm hiệp đồng và phục vụ cho các lực lượng phối thuộc của Bộ, của dân y và đồng bào trong quá trình chiến đấu và hành quân, truy kích địch ở các địa bàn.

Tổ chức công tác vệ sinh phòng dịch trong hành quân chiến đấu, vệ sinh chiến trường, bảo đảm quân số khỏe 97% theo chỉ lệnh quân y của ngành nghiệp vụ và mệnh lệnh của Tư lệnh Quân khu.

Bảo đảm tiếp tế quân y kịp thời, đạt hiệu quả cao cho các đơn vị tham chiến, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện thường xuyên, tổ chức và triển khai công tác chỉ huy quân y kịp thời, phù hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ bảo đảm quân y trong từng giai đoạn, từng khu vực với từng đơn vị, kể cả nội địa Quân khu và trên đất Bạn.

Trong thời gian lực lượng vũ trang Quân khu làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, Viện Quân y 120 hình thành hai bộ phận với chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Bộ phận cơ bản phía sau vẫn ở tại thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang). Bộ phận phía trước là 3 đội điều trị theo chân các đơn vị trực tiếp chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu để kịp thời cứu chữa thương binh, bệnh binh.

Năm 1981, theo chỉ đạo và hướng dẫn của Đảng ủy Cục Hậu cần, Đại hội Đảng bộ cơ sở Viện lần thứ II, nhiệm kỳ 1981-1983 được triệu tập. Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm kỳ 1978-1980; đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1981-1983, tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm xây dựng Viện vững mạnh toàn diện, Đảng bộ Viện trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt công tác điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 13 đồng chí: Trần Trung Hiếu được bầu làm Bí thư, Trần Văn Lư được bầu làm Phó Bí thư; các Ủy viên Thường vụ: Trần Phát Đạt, Nguyễn Khắc Nhường, Trương Minh Châu; các Đảng ủy viên gồm: Mai Xuân Ánh, Nguyễn Thành Nam, Trần Văn Ngát, Trần Quang Mỹ, Trương Thanh Tây, Đoàn Văn On, Phạm Văn Khởi, Đỗ Hoàng Minh.

Ban chỉ huy Viện gồm các đồng chí: Trần Văn Lư - Viện trưởng, Trần Trung Hiếu - Viện phó về Chính trị[10]; các đồng chí Viện phó là: Trần Phát Đạt, Nguyễn Khắc Nhường, Trương Minh Châu, Phạm Văn Khởi, Đỗ Hoàng Minh.

Năm 1982, Quân khu thành lập Đội điều trị 3, đóng tại Tàkeo - Campuchia, quy mô điều trị 150 giường bệnh, do đồng chí Nguyễn Thành Dân (Út Tâm) làm Đội trưởng. Đồng thời, thành lập Viện Quân y 122 đóng tại ngã ba Pôchentông, Phnôm Pênh, Campuchia, do đồng chí Trần Phát Đạt được điều động sang làm Viện trưởng, năm 1984 đồng chí được điều động về lại Viện Quân y 120 tiếp tục giữ chức Viện phó.

Về tổ chức đảng: Toàn Đảng bộ lúc này có 10 chi bộ trực thuộc: Chi bộ Phòng khám - Y vụ; Chi bộ Hành chính - Chính trị; Chi bộ Hậu cần; Chi bộ Dược; Chi bộ Cận lâm sàng - X quang - Lý liệu - Xét nghiệm; Chi bộ Cấp cứu hồi sức - Phòng mổ; Chi bộ Ngoại 1A - 1B; Chi bộ Chuyên khoa; Chi bộ Nội 1- Nội 2 - Y học dân tộc; Chi bộ Nội 3 - Nội 4.

Về tổ chức Đoàn Thanh niên có 9 chi đoàn trực thuộc Đoàn cơ sở là: Chi đoàn Phòng khám - Y vụ - Dược; Chi đoàn Chính trị - Hành chính; Chi đoàn Hậu cần; Chi đoàn Cận lâm sàng; Chi đoàn Cấp cứu hồi sức - Phòng mổ; Chi đoàn Ngoại 1A - 1B; Chi đoàn Chuyên khoa; Chi đoàn Nội 1- Nội 2 và Chi đoàn Nội 3 - Nội 4.

Về tổ chức Công đoàn, có 9 công đoàn bộ phận thuộc Công đoàn cơ sở (tổ chức công đoàn thành lập cuối năm 1979).

Bộ phận phía trước là 3 đội điều trị 1, 2, 3 làm nhiệm vụ cơ động theo các đơn vị trực tiếp chiến đấu để cấp cứu kịp thời thương binh, bệnh binh; phân loại chuyển về tuyến sau những trường hợp phải điều trị lâu dài hoặc vượt quá khả năng xử lý của Đội điều trị. Những thương binh, bệnh binh nhẹ điều trị tại chỗ, khi phục hồi sức khỏe thì đưa trở lại đơn vị chiến đấu, để giảm bớt áp lực khó khăn về tình trạng thiếu quân số chiến đấu cho các đơn vị ở chiến trường, giảm bớt khâu vận chuyển thương binh, bệnh binh đi xa, vừa khó khăn, gây tốn kém lại không an toàn. Đồng thời, góp phần giảm lượng thương binh, bệnh binh quá tải cho các tuyến quân y cơ bản phía sau. Bên cạnh việc cứu chữa cho thương binh, bệnh binh của lực lượng vũ trang Quân khu, 3 đội điều trị còn tích cực cứu chữa cho nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang của Bạn chiến đấu bị thương, bị bệnh. Việc làm này đã để lại tình cảm đặc biệt sâu sắc trong lòng nhân dân Bạn, góp phần cùng lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia.

Để giúp lực lượng quân y của Bạn sớm đảm nhiệm nhiệm vụ nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh trong lực lượng vũ trang của mình, cán bộ, y, bác sĩ của Viện ở các đội điều trị đã chủ động tích cực mở nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho lực lượng y tá, y sĩ của Bạn, giúp cho lực lượng quân y của các đơn vị Bạn không ngừng trưởng thành, phát triển đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiến đấu trước mắt và lâu dài của lực lượng vũ trang.

Trong những năm tháng lực lượng vũ trang Quân khu tham gia chiến đấu và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, Viện đã cử người tham gia các tổ chức quân y tiền phương, trong đó có những đồng chí giữ trọng trách quan trọng như đồng chí Hai Hùng - Đội trưởng Đội phẫu thuật (tiền thân của Đội điều trị), đồng chí Trần Văn Tuấn - Đội trưởng Đội điều trị 1, đồng chí Bùi Ngọc Em - Chính trị viên Đội điều trị 1, đồng chí Phạm Tương Lai, Phạm Văn Khởi - Viện phó kiêm Đội trưởng Đội điều trị 2, bác sĩ Út Tâm - Đội trưởng Đội điều trị 3, đồng chí Trần Phát Đạt[11] - Viện phó sang làm Viện trưởng Viện Quân y 122 và nhiều đồng chí khác. Các đồng chí được cử đi tuyến trước làm nhiệm vụ quốc tế đều an tâm phấn khởi, xác định tốt nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của người chiến sĩ quân y, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Đội điều trị 1 vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” ngày 25 tháng 1 năm 1983.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ trước những thử thách mới ở chiến trường và yêu cầu phục vụ ngày càng cao, năm 1984 Đại hội Đảng bộ cơ sở Viện lần thứ III, nhiệm kỳ 1984-1986 được tiến hành. Đại hội đề ra phương hướng lãnh đạo Viện tiếp tục phát huy thành tích đạt được trong nhiệm kỳ trước, ra sức phấn đấu đạt kết quả cao hơn nữa, nhất là công tác chuyên môn nghiệp vụ.

Trước Đại hội, do nhân sự Ban chỉ huy Viện có sự thay đổi: Đồng chí Trần Văn Lư - Viện trưởng, đồng chí Trần Trung Hiếu - Viện phó về Chính trị nghỉ hưu, đồng chí Phạm Văn Khởi chuyển về Sở Y tế tỉnh Bến Tre. Nên Ban chỉ huy Viện được kiện toàn mới, lúc này gồm: đồng chí Trần Phát Đạt giữ chức Viện trưởng; Ngô Văn Bé Ba giữ chức Viện phó về Chính trị; các đồng chí Trương Minh Châu, Nguyễn Khắc Nhường, Nguyễn Văn Quyên, Đỗ Hoàng Minh, Đặng Thế Khởi (Sáu Khởi) là Viện phó.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 11 đồng chí. Đồng chí Ngô Văn Bé Ba được bầu làm Bí thư, Trần Phát Đạt được bầu làm Phó Bí thư. Các đồng chí: Nguyễn Khắc Nhường, Trương Minh Châu là Ủy viên Thường vụ; các đồng chí Đảng ủy viên: Đoàn Văn On, Võ Tấn Minh, Nguyễn Văn Quyên, Dương Thị Tiến, Đinh Thanh Bình, Đỗ Hoàng Minh, Đặng Thế Khởi.

Tổ chức đảng và tổ chức quần chúng có sự thay đổi, các chi bộ: Dược, Cận lâm sàng, X quang, Lý liệu, Xét nghiệm, Chuyên khoa giải thể, sáp nhập vào các chi bộ khác. Lúc này, Viện còn 7 chi bộ là: Chi bộ Y vụ - Phòng khám - Dược, Chi bộ Chính trị - Hành chính, Chi bộ Hậu cần, Chi bộ Hồi sức cấp cứu - Phòng mổ, Chi bộ Ngoại 1A-1B, Chi bộ Nội 1- Nội 2 - Y học dân tộc, Chi bộ Nội 3 - Nội 4. Tổ chức quần chúng còn lại 7 chi đoàn, 7 công đoàn bộ phận (cùng tên với chi bộ) thuộc Đoàn cơ sở, Công đoàn cơ sở.

Suốt những năm chiến đấu giúp bạn Campuchia, nhất là vào những đợt ta mở chiến dịch tiến công, truy quét tàn quân địch, như chiến dịch mùa khô 1983-1984, 1984-1985, Viện phải tiếp nhận thương binh, bệnh binh ở mặt trận về đông, trung bình dung lượng điều trị của Viện từ 400 đến 500 thương binh, bệnh binh, lúc cao điểm lên tới 800 - 1.000 thương binh, bệnh binh. Từ năm 1982 trở đi, Quân khu đã thành lập Viện Quân y 122 tiền phương, đã giải quyết được một phần thương binh, bệnh binh tại chỗ, nhưng không vì thế mà Viện giảm thiểu nhiệm vụ điều trị thương binh, bệnh binh. Có những lúc cao điểm như chiến dịch mùa khô 1983-1984, 1984-1985 thương binh, bệnh binh từ mặt trận đưa về nước, các tuyến viện quân y trong nước quá tải phải nhờ cả bệnh viện các tỉnh khu vực Quân khu điều trị. Tính chất của việc điều trị thương binh, bệnh binh thời kỳ này cũng có những nét khác với những năm tháng trước đây, bởi những thương binh, bệnh binh nặng ở tuyến trước không xử lý được mới chuyển về phía sau, số thương binh bị mìn của địch cụt chân, cụt tay ngày càng nhiều, số bệnh nhân bị sốt rét ác tính, đái huyết cầu tố, suy nhược cơ thể về Viện ngày càng đông, đòi hỏi phải điều trị dài ngày mới phục hồi sức khỏe. Trong khi Viện lại phải đối mặt với khó khăn: dung lượng phục vụ quá tải, thiếu giường bệnh, thiếu nhà ở, phải tận dụng cả hành lang kê giường bệnh; phải ngoại khoa hóa nội khoa, huy động Khoa Nội 2 làm thêm Khoa Ngoại 2 và Ngoại 3, do bác sĩ Dương Thị Tiến và Phạm Thị Thanh Nga làm Trưởng khoa; tỉ lệ phục vụ quá tải 1 người/7 bệnh nhân; trình độ xử lý các ca bệnh sốt rét ác tính, đái huyết cầu tố gặp nhiều khó khăn, lúng túng... Cũng trong thời gian này, để đáp ứng yêu cầu số lượng thương binh, bệnh binh tăng, Viện thành lập thêm Khoa B1C, biên chế gồm 7 y, bác sĩ, do bác sĩ Năm Bé làm Trưởng khoa; sau đó bác sĩ Vũ Viết Điến từ Khoa Ngoại 2 chuyển sang làm Trưởng khoa, thay bác sĩ Năm Bé.

Để khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng, hiệu quả điều trị, ngoài việc lãnh đạo quán triệt thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ quy định của Cục Quân y và các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh của Đảng ủy, chỉ huy Cục Hậu cần, Viện luôn đề cao phương châm phát huy trí tuệ tập thể trong chẩn đoán xử trí những ca khó, thực hiện chế độ báo cáo chuyên môn kịp thời: Y tá báo cáo cho y sinh điều trị, y sinh điều trị báo cáo chủ nhiệm khoa, chủ nhiệm khoa báo cáo Ban chỉ huy Viện để tránh tình trạng không kịp thời xử trí cấp cứu người bệnh gây hậu quả nghiêm trọng. Viện luôn đề cao phương châm “trí tuệ tập thể”, tức là vận dụng triệt để phương pháp “hội chẩn tập thể” trong mọi tình huống khó khăn phức tạp, nguy kịch. Không phải chỉ có kíp trực trong ngày hội chẩn, khi cần thiết, dù là ngày hay đêm, cả trong giờ nghỉ, ngày nghỉ cũng được Ban chỉ huy Viện triệu tập đến để hội chẩn. Khi có kết luận hội chẩn, Ban chỉ huy Viện mới chỉ định phẫu thuật viên chính kíp mổ. Trong những năm qua, nhờ thực hiện tốt phương châm nêu trên và với tinh thần trách nhiệm của người thầy thuốc, công tác điều trị của Viện luôn đạt kết quả cao, không để xảy ra trường hợp nào đáng tiếc do chủ quan, thiếu ý thức trách nhiệm.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, Viện Quân y 120 ở địa bàn cơ bản (Mỹ Tho) thu dung và điều trị lành các vết thương của bộ đội từ chiến trường chuyển về, đảm bảo đủ tiêu chí phục hồi chức năng cho thương binh, điều trị và phục hồi sức khỏe cho bệnh binh (trừ những trường hợp vượt tuyến). Các ca bệnh thường gặp là: xử lý cấp cứu tắc ruột do dính ở các vết thương bụng, viêm phúc mạc muộn do bục vết khâu ruột được mổ kỳ đầu ở mặt trận, viêm phúc mạc khu trú do ứ đọng dịch trong ổ bụng, đóng hậu môn nhân tạo do vết thương thủng đại tràng được tuyến trước đưa ruột ra làm hậu môn tạm thời; phần lớn các vết thương gãy xương, các vết thương cắt mỏm cụt ở mặt trận khi về Viện phải xử lý lại vì nhiễm trùng, viêm xương (có trường hợp phải mổ nạo 2 - 3 lần mới khỏi), còn xương chết chưa lấy hết, thiếu da, thừa xương... nhất là các vết thương gãy chân, gãy tay phải cắt mỏm cụt, phải xử lý lại hoàn chỉnh mới lắp chân tay giả được; các vết thương ngực biến chứng viêm mủ phế mạc kéo dài tạo thành những khoang vách ngăn ở trong phế mạc, phải mở lồng ngực phá các vách ngăn, bơm rửa, cắt sườn đánh xẹp lồng ngực mới khỏi. Cụ thể như các ca điển hình sau:

- Thương binh Thái Văn Phụ gãy 1/3 cẳng chân phải, vết thương ứ nhiều mủ, nhiễm trùng, nhiễm độc cao, người gầy da xanh, ăn ngủ kém, vết thương nhiều dịch hôi thối từ chiến trường Campuchia chuyển về. Trước tình hình nguy kịch của thương binh, đội ngũ y bác sĩ, hộ lý tận tình cứu chữa, chăm sóc điều trị, hơn hai tháng vết thương lành, sức khỏe phục hồi và đưa đi an dưỡng.

- Thương binh Phạm Văn Chính cụt 1/3 giữa cẳng chân phải, vết thương mỏm cụt bị nhiễm trùng nhiều mủ, dịch hôi thối từ chiến trường đưa về, bệnh nhân lại bị tâm thần lên cơn kích động phải phục vụ tại chỗ rất khó khăn. Với sự tận tình chăm sóc, cứu chữa, phục vụ của các đồng chí y, bác sĩ, hộ lý, dần dần sức khỏe bệnh nhân phục hồi, vết thương lành, thần kinh ổn định, trên hai tháng cho ra viện, đưa đi an dưỡng.

- Bệnh nhân Nguyễn Ngọc Thức từ tuyến trước chuyển về, bị sốt rét ác tính, đái huyết cầu tố với tình trạng hôn mê độ II, trụy tim mạch nặng, huyết áp tụt 75/50 mm thủy ngân, nước tiểu màu đỏ sẫm, xét nghiệm hồng cầu còn 1.300.000/mm3, tình trạng nguy kịch, nguy cơ tử vong rất cao, Khoa Cấp cứu theo dõi chăm sóc điều trị tốt, sau 15 ngày bệnh ổn định, cho ra viện.

Những năm 1986 - 1989, Quân tình nguyện Việt Nam chuẩn bị rút dần về nước, kết thúc nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, lưu lượng thương binh, bệnh binh từ tuyến trước đưa về Viện có giảm so với trước. Vì vậy, Viện đề nghị Quân khu cho phép thu dung, điều trị bệnh nhân là nhân dân trên địa bàn, được Quân khu đồng ý cho phép. Do đó cùng lúc, Viện phải chăm sóc, cứu chữa, điều trị tốt cho thương binh, bệnh binh trong lực lượng vũ trang Quân khu mà còn chăm lo điều trị tốt cho đồng bào trên địa bàn, được nhân dân tin yêu, quý mến.

Tiêu biểu là ca điều trị cho nhân dân sau đây:

- Bệnh nhân Nguyễn Thị Diệu, 44 tuổi, ở Mỹ Tho, bị u xơ tử cung, được đưa vào khoa cấp cứu của Viện trong tình trạng bệnh nhân sức khỏe yếu, thiếu máu cơ tim, trước khi phẫu thuật hồng cầu còn 2.500.000/mm3 có ảnh hưởng cho việc phẫu thuật cắt bỏ khối u. Khi gây mê lần đầu không phẫu thuật được, do mạch chậm, huyết áp dao động và thấp. Trước nguy kịch như vậy, nếu không phẫu thuật thì tính mạng bệnh nhân sẽ nguy hiểm, dẫn đến tử vong. Với quyết tâm cao của đội ngũ y, bác sĩ và sự chỉ đạo của Ban chỉ huy Viện, ca phẫu thuật diễn ra an toàn. Sau gần một tháng bệnh nhân khỏi bệnh ra viện.

Kết quả điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh và nhân dân của Viện từ khi thành lập (30.4.1977) cho đến hết thời gian làm nhiệm vụ quốc tế giúp Bạn (25.9.1989): Đã nhận và điều trị 23.557 bệnh nhân, điều trị khỏi ra viện 22.454 bệnh nhân, tử vong 103 bệnh nhân; xét nghiệm 237.153 bệnh nhân; X quang (chiếu + chụp) 30.928 bệnh nhân; pha chế dịch truyền các loại 26.848 lít; pha chế thuốc nước uống 8.842 lít; bào chế thuốc viên các loại 262.900 viên; thuốc thang điều trị đông y 10.384 thang; pha nước kiến vàng để rửa vết thương 80 lít. Với kết quả nêu trên, tuy chưa phải là lớn lắm nhưng  Bệnh viện đã góp phần quan trọng cùng ngành Quân y Quân khu làm tốt công tác thu dung, điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh, nhân dân trên địa bàn Quân khu.

Bằng năng lực chuyên môn, đặc biệt thái độ, tinh thần phục vụ “Thầy thuốc như mẹ hiền” của đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Viện đã để lại những hình ảnh đẹp, những dấu ấn sâu sắc về truyền thống y đức của người chiến sĩ quân y trong trái tim và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân trên địa bàn khu vực sông Tiền.

 Để tiếp tục lãnh đạo Bệnh viện có sự phát triển vững chắc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn cuối giúp Bạn, theo chỉ đạo và hướng dẫn của trên, Đảng bộ Viện tổ chức Đại hội lần thứ IV, nhiệm kỳ 1987 - 1989. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí. Đồng chí Ngô Văn Bé Ba được bầu làm Bí thư, đồng chí Trương Minh Châu được bầu làm Phó Bí thư; các đồng chí: Võ Tấn Minh, Đỗ Hoàng Minh, Nguyễn Văn Quyên, Đặng Thế Khởi, Dương Thị Tiến, Đoàn Văn On, Cao Thị Tiến là Đảng ủy viên.

Trước Đại hội, nhân sự Ban chỉ huy Viện có một số thay đổi: Đồng chí Trần Phát Đạt - Viện trưởng và các đồng chí Nguyễn Khắc Nhường, Nguyễn Văn Quyên - Viện phó đều lớn tuổi được trên cho nghỉ chờ hưu. Đồng chí Trương Minh Châu - Viện phó được bổ nhiệm làm Viện trưởng; đồng chí Ngô Văn Bé Ba tiếp tục giữ chức Viện phó về Chính trị cùng các đồng chí Đặng Thế Khởi, Đỗ Hoàng Minh - Viện phó. Cũng trong thời gian này, bác sĩ Trương Hồng Thái - Chủ nhiệm Khoa Y học dân tộc Viện Quân y 121 được điều về làm Chủ nhiệm Khoa Y học dân tộc Viện Quân y 120 thay bác sĩ Năm Bé nghỉ hưu. Tổ chức chi bộ, chi đoàn, công vẫn giữ ổn định như kỳ Đại hội lần thứ III.

Song song với công tác thu dung, điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh và cho nhân dân, Đảng ủy, chỉ huy Viện đã quan tâm đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học. Trước mắt nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ chuyên môn, nghiệp vụ của Viện nhằm phục vụ cứu chữa kịp thời thương binh, bệnh binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, về lâu dài là nhằm đáp ứng được yêu cầu cứu chữa có chất lượng cao của một bệnh viện chính quy Quân đội.

Để khắc phục khó khăn về thiếu cán bộ chuyên môn do thay nhau đi học, Viện thực hiện bằng cách bố trí sắp xếp kiêm nhiệm để vừa bảo đảm chỉ tiêu đi học dài hạn theo chiêu sinh của Cục Quân y hoặc của Quân khu vừa hoàn thành nhiệm vụ tại Viện: y tá học quân y trung cấp, y sĩ học chuyên tu, bác sĩ đi bổ túc chuyên khoa...

Viện đã chủ động liên hệ, liên kết với bệnh viện tuyến trên và các cơ sở y tế có uy tín trong và ngoài Quân đội để gửi người đến học tập, thực hành theo phương thức cùng ở, cùng làm với khoa, vừa tìm hiểu vừa tranh thủ sự chỉ dẫn của chủ nhiệm khoa theo cách dạy một thầy một trò, không hạn chế thời gian, khi có khả năng làm độc lập thì trở về đơn vị công tác. Với phương thức này, trong những năm 1980 -1989, Viện đã cử được nhiều bác sĩ lên các Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Chợ Rẫy, 115 (Bệnh viện Nhân dân, Viện Quân y 175 ở Thành phố Hồ Chí Minh để học tập, thực hành nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

Không chỉ cử người tham gia học các lớp đào tạo, chuyên tu, tập huấn như trên, từ năm 1978 đến năm 1986 Viện đã mở được 7 lớp đào tạo y tá tại chức cho 373 đồng chí theo học; mở lớp y tá giảng dạy cho đối tượng là học viên người Campuchia được 62 người theo học; giảng dạy và hướng dẫn thực tập trên lâm sàng cho 4 lớp y tá, 6 lớp y sĩ chuyên tu, học viên của Trường Quân y sĩ Quân khu về thực tập.

 Qua 10 năm vừa làm công tác cứu chữa thương binh, bệnh binh và nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật (1980 - 1989), Viện đã có 5 đề tài khoa học kỹ thuật cấp Quân khu, cấp Bộ, được áp dụng trong thực tiễn công tác điều trị, đó là: “Điều trị sốt rét dai dẳng”, “Điều trị Eczema bằng cắt vá có nghệ mật ong”, “Phẫu thuật mỏm cụt kỳ II sớm”, “Phẫu thuật ruột thừa không dùng kháng sinh”, “Điều trị sốt rét theo phác đồ bằng thuốc viên Đông y”.

Ngoài việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Viện còn tổ chức dạy học văn hóa cho những đồng chí văn hóa thấp, tổ chức học ngoại ngữ cho đội ngũ y, bác sĩ bằng cách chọn những đồng chí có văn hóa lớp 12, đại học để dạy văn hóa, mời giáo viên ngoại ngữ các trường bên ngoài vào dạy cho đơn vị.

Quý III năm 1989, Đảng bộ Viện triệu tập Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 1989-1991. Sau khi kiểm điểm đánh giá công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 1987-1989, đề ra phương hướng lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 1989-1991, Đại hội bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm các đồng chí: Ngô Văn Bé Ba, Trương Minh Châu, Đỗ Hoàng Minh, Đoàn Văn On, Đặng Thế Khởi và Dương Thị Tiến. Đồng chí Ngô Văn Bé Ba được bầu giữ chức Bí thư, đồng chí Trương Minh Châu giữ chức Phó Bí thư.

Cuối năm 1989, lực lượng vũ trang Quân khu cùng với các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Lúc này, Viện Quân y 122 tiền phương và các đội điều trị được Quân khu cho sáp nhập vào Viện Quân y 120 và Viện Quân y 121, một số được bổ sung cho các cơ sở quân y địa phương, đơn vị.

Tình hình tổ chức, biên chế của Viện lúc này có sự biến động lớn, đặt ra công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ phải giải quyết kịp thời để xây dựng và củng cố Viện đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Nhiều bác sĩ, y sĩ công tác ở chiến trường về được sắp xếp cho đi học chuyên tu để nâng cao trình độ chuyên môn, những đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu được giải quyết cho chuyển ngành, phục viên hoặc nghỉ hưu theo chính sách của Nhà nước. Lúc này, thương binh, bệnh binh đã giảm nhiều so với trước, theo yêu cầu nhiệm vụ, Viện sắp xếp lại các tổ chức khoa, ban, chi bộ, chi đoàn, công đoàn. Nhập Khoa Ngoại 1A với Ngoại 3 lấy tên là Ngoại 1A, nhập Khoa Ngoại 1B và Ngoại 2 lấy tên là Ngoại 1B. Ghép Chi bộ Nội 1, Y học dân tộc với Chi bộ Nội 3, Nội 4; ghép Chi bộ Ngoại (1A, 1B, Ngoại 2, Ngoại 3) với Chi bộ Hồi sức cấp cứu, Phòng mổ. Tổ chức đảng của Viện lúc này còn 5 chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở 2 cấp: Chi bộ Y vụ - Phòng khám - Dược; Chi bộ Chính trị - Hành chính; Chi bộ Hậu cần; Chi bộ khối Nội; Chi bộ khối Ngoại. Tổ chức đoàn, còn 5 chi đoàn (cùng tên với chi bộ) thuộc Đoàn cơ sở và 4 công đoàn bộ phận thuộc Công đoàn cơ sở là: Y vụ, Phòng khám, Dược, Chính trị; Hậu cần; khối Nội; khối Ngoại.

Công tác xây dựng Đảng qua các kỳ Đại hội kể từ khi thành lập cho đến khi kết thúc làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, tuy trong từng thời gian về biên chế, nhân sự của Viện có sự thay đổi do nhiệm vụ như đưa lực lượng tham gia các đội phẫu thật quân y tuyến trước làm nhiệm vụ quốc tế hoặc do một số thuyên chuyển đơn vị, đi học, chuyển ngành, ra quân... Song Đảng ủy, Ban chỉ huy Viện, các chi bộ khoa, ban không vì thế mà sa sút, vẫn giữ vững nền nếp chế độ thực hiện nhiệm vụ nghiêm, chặt chẽ; hệ thống lãnh đạo thường xuyên được kiện toàn phù hợp với đặc điểm, tính chất, yêu cầu của một viện tuyến cuối loại B của Quân khu, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Ngoài việc tập trung lãnh đạo, thực hiện tốt công tác điều trị, cứu chữa thương binh, bệnh binh, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Đảng ủy, Ban chỉ huy Viện còn quan tâm lãnh đạo các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Viện chính quy. Trong đó, coi trọng việc quán triệt, học tập, phổ biến các chỉ thị, nghị quyết, các chuyên đề giáo dục chính trị, quân sự, các quy định của cấp ủy đảng, chỉ huy cấp trên và cấp mình tới toàn bộ đội ngũ đảng viên, cán bộ, công nhân viên của Viện. Thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia sản xuất.

 Tổng kết 4 năm (1978 - 1982) thực hiện Cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân”, Viện được Quân khu tặng Cờ thưởng luân lưu. Tổng kết 5 năm (1978 - 1983) thực hiện Cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân” được Quân khu tặng Cờ đơn vị khá nhất Quân khu. Năm 1984, được Quân khu tặng Cờ đơn vị giữ vững các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia sản xuất.

Tổng kết 10 năm giúp bạn Campuchia (1978 - 1989), Viện được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, ngoài ra còn được tặng nhiều bằng khen, giấy khen và nhiều phần thưởng cao quý khác cho tập thể, cá nhân trong Viện. Đồng thời với việc lãnh đạo thực hiện tốt các mặt công tác, hoạt động nói trên, Đảng bộ còn lãnh đạo xây dựng Viện chính quy ngày càng đi vào nề nếp thống nhất. Công tác chính sách hậu phương quân đội thường xuyên được quan tâm chăm lo đúng mức, bảo đảm các chế độ chính sách, quy định đối với các đối tượng do Viện quản lý.

Để tăng cường sự đoàn kết gắn bó với địa phương nơi đóng quân, Viện đã tổ chức và chỉ đạo các khoa, ban, đoàn thể trong Viện kết nghĩa với các cơ quan, đoàn thể địa phương, như kết nghĩa với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tiền Giang, Hội Phụ nữ các huyện và thành phố Mỹ Tho, Trường phổ thông cơ sở phường 6, thành phố Mỹ Tho; chủ động quan hệ, thăm hỏi các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể quần chúng nhân dân trên địa bàn đứng chân. Qua các hoạt động kết nghĩa, quan hệ công tác, thăm hỏi, Viện đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của địa phương. Vào các dịp lễ, tết hằng năm hai bên thường đến thăm hỏi, động viên, tặng quà lẫn nhau, xây dựng các chương trình hành động, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao... Các nghĩa cử của chị em Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương đến tận giường bệnh thăm hỏi, động viên, tặng quà, an ủi thương binh, bệnh binh, đã làm dịu đi nỗi đau cho thương binh, bệnh binh trong lúc cơn bệnh, vết thương hoành hành, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để thương binh, bệnh binh mau lành bệnh, trở về đơn vị tiếp tục học tập, công tác và chiến đấu.

Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật luôn được Đảng ủy, Ban chỉ huy Viện quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát. Phát huy tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, tự lực tự cường phấn đấu vươn lên, chỉ trong hơn 10 năm (1977 - 1989), Viện đã đầu tư từng bước nâng cao đời sống vật chất, trang thiết bị phục vụ đội ngũ cán bộ, công nhân viên, thương binh, bệnh binh của Viện. Đã làm được 15.820m2 đường giao thông trải nhựa trong khu vực Viện, 15.600m2 rào kẽm gai bao quanh Viện; nâng cấp sửa chữa, xây mới, thay tôn lợp ngói và Phi-brô-xi-măng 66 nhà ở, nơi làm việc bằng 9.522m2; xây mới và sửa chữa 23 hồ nước dung lượng 230m3; sửa chữa 280 giường nằm.

Thường xuyên bảo đảm đầy đủ chế độ, tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm cho đơn vị. Công tác tăng gia sản xuất cải thiện đời sống từ năm 1977 đến năm  1988, Viện đã tổ chức trồng lúa ở Đồng Tháp thu được 225.924kg, tự túc một tháng ăn/người/năm của toàn thể cán bộ, công nhân viên của Viện; ngoài ra còn nộp về trên 17.868kg gạo; nuôi được 300 con heo, 25 con bò, 52.883kg cá các loại. Trồng được 247.650kg rau, củ, quả các loại. Từ kết quả tăng gia sản xuất, đơn vị đã đưa vào bữa ăn thêm cho mỗi đầu người 2kg gạo/tháng, từ 5 đồng những năm 1980 - 1985, tăng lên 200 đồng/người/ngày năm 1989. Ngoài ra còn bảo đảm chất đốt, quân trang, vận chuyển thương binh, bệnh binh đầy đủ, kịp thời, an toàn.

Nhìn lại chặng đường từ ngày thành lập Viện (30.4.1977) đến cuối năm 1989, đây là giai đoạn lực lượng vũ trang Quân khu nói chung, Viện Quân y 120 nói riêng luôn phải đối đầu với những khó khăn thử thách lớn. Đất nước vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, lại đương đầu ngay với cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và sau đó là cả một quá trình dài hơn 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia. Từ chiến tranh sang hòa bình, hòa bình sang chiến tranh, lực lượng vũ trang Quân khu đã phải điều chỉnh nhiệm vụ, theo đó là sự biến động về tổ chức biên chế, tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ không ổn định, hậu phương gia đình và những khó khăn về kinh tế tác động.

Viện Quân y 120 - một đơn vị với nhiệm vụ chuyên môn đặc thù “trị bệnh cứu người”, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thầy thuốc như mẹ hiền”, Viện luôn lấy y đức làm trọng. Thông qua việc cứu chữa thương binh, bệnh binh để góp phần cùng lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang, giúp cách mạng, nhân dân Campuchia hồi sinh, thoát khỏi thảm họa diệt chủng của tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêng Xari.

Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, dù khó khăn gian khổ ác liệt, Đảng ủy, Ban chỉ huy cùng đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Viện luôn kiên định vững vàng, quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, nhiệm vụ của Quân khu, giữ vững phẩm chất cao quý của người thầy thuốc. Tích cực trong điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh, trong nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để phục vụ công tác điều trị bệnh. Khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn, luôn nêu cao ý thức chủ động, tự lực, tự cường. Những việc làm đó của Viện đã góp phần quan trọng cùng ngành Quân y Quân khu làm tốt công tác điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh và nhân dân trên địa bàn và nước Bạn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thành tích và chiến công của Viện trong gần 13 năm (30.4.1977 -  cuối 1989) được kết tinh bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của các thế hệ cán bộ, bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, y tá, công nhân viên của Viện, đây là niềm tự hào và là hành trang, động lực để cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Viện vững bước vào thời kỳ đổi mới, tiếp tục góp sức mình vào sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng nước nhà đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước trên con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

 

 

 

 

Chương ba

BỆNH VIỆN QUÂN Y 120 TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI,

 XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

(1990 - 2017)

       

I. ỔN ĐỊNH TỔ CHỨC BIÊN CHẾ VÀ NHIỆM VỤ MỚI CỦA BỆNH VIỆN SAU KHI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU KẾT THÚC NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA (1990 - 1995)

Sau 10 năm vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, sống, chiến đấu trên đất bạn Campuchia, tháng 9 năm 1989, các đơn vị cuối cùng Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thuộc lực lượng vũ trang Quân khu 9 đã trở về Tổ quốc, kết thúc vẻ vang nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia hồi sinh dân tộc.

Khi cán bộ, chiến sĩ ta trở về Tổ quốc cũng là lúc công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã trải qua 4 năm (1986 - 1989), thu được nhiều kết quả bước đầu rất quan trọng, nhưng đất nước vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng, nhất là về kinh tế, đời sống của đại bộ phận nhân dân và lực lượng vũ trang vẫn còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, những phần tử cơ hội, bất mãn, các thế lực phản động tập trung xuyên tạc mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chống phá sự lãnh đạo của Đảng ta, đòi đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập làm cho tình hình chính trị, kinh tế, xã hội càng phức tạp hơn. Trước tình hình đó, tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ không tránh khỏi băn khoăn, lo lắng.

Lực lượng vũ trang Quân khu sau khi rút quân làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia về nước, tổ chức biên chế có nhiều biến động. Theo yêu cầu xây dựng Quân đội trong giai đoạn mới, một số đơn vị phải giải thể hoặc rút gọn thành khung huấn luyện dự bị động viên, quân số dư ra rất nhiều, cần giải quyết phục viên, chuyển ngành và nghỉ hưu cho phù hợp với từng đối tượng. Số còn tiếp tục tại ngũ, đời sống sinh hoạt, nơi ăn ở và hậu phương gia đình sau nhiều năm tập trung cho nhiệm vụ giúp Bạn, nay trở về gặp không ít khó khăn.

Viện Quân y 120 thời gian này cũng ở trong hoàn cảnh đó, nhưng có mặt khó khăn riêng phức tạp hơn. Với nhiệm vụ được giao là thu dung, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu khu vực sông Tiền và tiếp nhận điều trị thương binh, bệnh binh từ chiến trường Campuchia về, trong điều kiện cơ sở vật chất, nhà cửa, phòng bệnh nhân xuống cấp trầm trọng (hầu hết là nhà cấp 4 được xây dựng từ trước giải phóng). Trang thiết bị, dụng cụ y tế phục vụ cho cứu chữa thương binh, bệnh binh và điều trị thường xuyên vừa thiếu, vừa cũ kỹ, lạc hậu. Trình độ chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ không đồng đều, người được đào tạo chính quy ở Học viện Quân y, người trưởng thành từ thực tế công tác, người ở hậu phương, người ở chiến trường về... Tình hình trên dẫn đến nội bộ có những khúc mắc va chạm, không chỉ xảy ra trên lĩnh vực tư tưởng mà ngay cả chuyên môn nghiệp vụ... Vì vậy, một số đồng chí không yên tâm công tác, muốn xin chuyển đi nơi khác hoặc chuyển ra các bệnh viện ngoài dân chính; số khác không tâm huyết với nghề. Tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong Viện lúc này diễn biến hết sức phức tạp, làm cho chất lượng hiệu quả điều trị giảm hẳn.

Vừa rút quân về nước được một tháng (25.9 - 25.10.1989), được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đã cử một số đơn vị sang Campuchia làm nhiệm vụ đặc biệt. Tháng 12 năm 1989 theo chỉ thị của Thủ trưởng Cục Hậu cần Quân khu, cùng với Viện Quân y 121, Viện Quân y 120 đã cử một đội phẫu thuật phục vụ cho K3B gồm 12 đồng chí, do đồng chí Đỗ Chí Linh làm Đội trưởng, đứng chân tại ngã ba Chôm Chao (Phnôm Pênh). Sau hơn một tháng thực hiện nhiệm vụ, đồng chí Đỗ Chí Linh cùng đội phẫu được lệnh rút về nước. Để tiếp tục nhiệm vụ, Viện Quân y 120 cử một đội phẫu thuật mới tiếp tục sang Campuchia phục vụ K3B do bác sĩ Vũ Viết Điến làm Đội trưởng. Đội phẫu được chia làm 2 tổ: Tổ 1 do bác sĩ Trần Hữu Lương làm Tổ trưởng, đóng quân ở sân bay Pôchentông; Tổ 2 do bác sĩ Nguyễn Xuân Sách làm Tổ trưởng, đóng quân ở Vêrinh.

Trước tình hình nhiệm vụ mới, cuối năm 1989, Đảng ủy Viện họp ra nghị quyết lãnh đạo. Nội dung nghị quyết có đoạn nêu: “... Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấu suốt nhiệm vụ; ổn định tổ chức biên chế, nhanh chóng sắp xếp lại các khoa, ban cho phù hợp; tổ chức khám và điều trị đạt chất lượng cao nhất...”.

Quán triệt nghị quyết của Đảng ủy Viện, cấp ủy, các chi bộ đã lãnh đạo các tổ chức quần chúng, như công đoàn, phụ nữ, thanh niên đi sâu, đi sát nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của từng cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy Viện giải quyết từng trường hợp cụ thể vừa có lý vừa có tình, nên bước đầu có chuyển biến tiến bộ, hiệu quả công tác được nâng lên, tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên đi dần vào ổn định.

Đầu tháng 1 năm 1990, đồng chí Phan Minh Hùng - Trưởng phòng Quân y Mặt trận 979 được điều về giữ chức Viện phó. Cũng trong thời gian này, hơn 20 cán bộ y, bác sĩ của Đội điều trị 6 sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia được điều về nhận nhiệm vụ ở Viện Quân y 120. Quân số Viện lúc này tăng lên 140 đồng chí, được biên chế thành 11 khoa và 4 cơ quan (so với biên chế vẫn thiếu 10 đồng chí). Ban chỉ huy Viện có 6 đồng chí gồm Trương Minh Châu (Năm Châu) giữ chức Viện trưởng, Ngô Văn Bé Ba - Viện phó về Chính trị, Đỗ Hoàng Minh - Viện phó Y vụ, Phan Minh Hùng - Viện phó Ngoại, Đặng Thế Khởi (Sáu Khởi) - Viện phó, Bùi Anh Dũng - Viện phó về Hậu cần thay đồng chí Nguyễn Văn Quyên nghỉ dài hạn.

Các phòng, ban, khoa cũng được bố trí, sắp xếp lại cho phù hợp với tính chất, nhiệm vụ. Khoa Hồi sức cấp cứu - Phòng mổ do bác sĩ Cao Thị Tiến - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Cận lâm sàng do bác sĩ Phạm Minh Hoàng - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Dược do dược sĩ Đoàn Quốc Thới - Chủ nhiệm Khoa, Phòng khám do bác sĩ Lê Vinh phụ trách, Khoa Ngoại 1A do bác sĩ Dương Thị Tiến - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Ngoại 1B do bác sĩ Đoàn Văn On - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 1 do bác sĩ Võ Tấn Minh - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 3 do bác sĩ Nguyễn Đình Phước - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Nội 4 do bác sĩ Trần Đình Thăng - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Chuyên khoa do bác sĩ Phí Vĩnh Bảo - Chủ nhiệm Khoa, Khoa Y học cổ truyền do bác sĩ Lê Duy Thụ - Chủ nhiệm Khoa thay bác sĩ Trương Hồng Thái đi làm chuyên gia K3B tại Campuchia. Ban Hành chính do đồng chí Trương Quang Sơn - Trưởng ban, Ban Chính trị do đồng chí Nguyễn Hữu Khoa - Trưởng ban (Chủ nhiệm), Ban Hậu cần do đồng chí Nguyễn Tấn Tài -Trưởng ban (Chủ nhiệm), bác sĩ Đào Xuân Hào - Trưởng ban Y vụ.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan đã tham mưu giúp Đảng ủy, chỉ huy Viện đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, nhanh chóng ổn định tư tưởng, bảo đảm hậu cần đời sống cho thương binh, bệnh binh và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Viện trong điều kiện khó khăn trước mắt.

Về tổ chức đảng, Đảng ủy Viện lúc này gồm các đồng chí: Ngô Văn Bé Ba làm Bí thư, Trương Minh Châu làm Phó Bí thư, Đỗ Hoàng Minh, Đoàn Văn On, Nguyễn Văn Quyên, Dương Thị Tiến, Đoàn Văn Cương, Cao Thị Tiến, Võ Tấn Minh là Đảng ủy viên.

Đảng bộ có 5 chi bộ trực thuộc: Chi bộ Y vụ - Phòng khám do đồng chí Đỗ Hoàng Minh giữ chức Bí thư chi bộ, Chi bộ Hành chính - Chính trị do đồng chí Nguyễn Hữu Khoa - Chủ nhiệm Chính trị làm Bí thư, Chi bộ Hậu cần do đồng chí Nguyễn Tấn Tài làm Bí thư, Chi bộ khối Nội do đồng chí Võ Tấn Minh làm Bí thư, Chi bộ khối ngoại đồng chí Đoàn Văn On làm Bí thư.

Sau khi ổn định tổ chức biên chế, Viện đã tập trung thực hiện chức năng, nhiệm vụ trọng tâm, trước hết là nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, điều trị cho thương binh, bệnh binh và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang khu vực sông Tiền.

Viện Quân y 120 thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn trong điều trị, trang thiết bị y cụ quá cũ kỹ, lạc hậu; về con người thì toàn Viện chỉ có 31 bác sĩ và dược cao, lực lượng công nhân viên phục vụ chưa qua đào tạo lên đến 47 đồng chí. Trong khi đó vẫn phải bảo đảm khám, chữa bệnh cho bệnh nhân ở tất cả các khoa như các bệnh viện khác, đồng thời đảm nhiệm hai khoa tuyến cuối của Quân khu là Khoa Lao và Khoa Tâm thần, mà ở các khoa này chưa có bác sĩ chuyên khoa sâu.

Từ đặc điểm trên, Ban chỉ huy Viện đã chủ động xây dựng kế hoạch sát với thực tế của Viện. Vừa củng cố doanh trại, tập trung là các phòng bệnh nhân, phòng khám và điều trị; vừa triển khai các mặt hoạt động công tác, nhất là củng cố các khoa, duy trì nghiêm 6 công tác quản lý bệnh viện, 34 chế độ, 2 phương châm, 5 quan điểm y học cách mạng. Các y, bác sĩ của Viện đã không quản ngày đêm tập trung cứu chữa thương binh, bệnh binh, hết lòng vì người bệnh. Công tác cứu chữa cho thương binh, bệnh binh và nhân dân đã có bước tiến bộ mới. Điển hình một số ca bệnh hiểm nghèo đã được các y, bác sĩ của Viện cứu chữa thành công là:

 Trường hợp bệnh nhân Nguyễn Văn Minh, 20 tuổi, thuộc Sư đoàn bộ binh 8, vào Viện trong tình trạng đứt động mạch dưới đòn, đã tháo khớp vai do đạn thẳng, nguy cơ tử vong rất cao. Bệnh nhân đã được phẫu thuật cấp cứu tối khẩn cấp tại quân y đơn vị, chuyển về Viện được phẫu thuật nối mạch máu và xử lý vết thương triệt để; sau hơn một tháng bệnh nhân khỏe, ăn uống sinh hoạt được, vết thương liền sẹo tốt.

Bệnh nhân Nguyễn Hữu Long, 23 tuổi, thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang, vào viện trong tình trạng xoắn đại tràng sigma; bệnh nhân đau bụng dữ dội, bụng chướng, dấu hiệu rắn bò, X quang có hình ảnh tắc ruột; bệnh nhân được phẫu thuật cấp cứu tháo xoắn; sau gần một tháng bệnh nhân khỏe, vết mổ lành.

 Bệnh nhân Nguyễn Văn Út, 26 tuổi, thuộc Sư đoàn bộ binh 339, vào viện trong tình trạng vết thương thấu bụng do đạn thẳng (thủng ruột non, tổn thương gan); bệnh nhân bị sốc mất máu, nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Bệnh nhân đã được hồi sức tích cực và phẫu thuật cấp cứu; sau gần hai tháng điều trị bệnh nhân khỏe. Bệnh nhân Nguyễn Văn Đực, thuộc Sư đoàn bộ binh 339, vào viện trong tình trạng dập nát cánh tay do mìn; bệnh nhân mất máu nhiều, lập tức được hồi sức tích cực và mổ cấp cứu, thực hiện kỹ thuật chuyên sâu nối cân cơ thần kinh và mạch máu để cứu chi thể của thương binh; sau gần hai tháng tay bị thương đã vận động được và ổn định ra viện.

Cùng với việc cứu chữa thương binh, bệnh binh, Viện còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y, bác sĩ trong Viện bằng nhiều biện pháp, vừa bồi dưỡng tại chức vừa lựa chọn những đồng chí có tinh thần trách nhiệm tốt, trẻ khỏe, có khả năng phát triển đi đào tạo cao học và chuyên khoa. Tuy nhiên, thực tế đội ngũ y, bác sĩ của Viện lúc này rất thiếu, nên việc cử một số đồng chí đi học thì Viện sẽ gặp không ít khó khăn. Mặc dù vậy, Ban chỉ huy Viện vẫn quyết tâm thực hiện chủ trương này, bởi đây là chiến lược lâu dài. Lãnh đạo, chỉ huy từ Viện đến các khoa, ban vừa tích cực làm công tác tư tưởng, động viên, vừa có kế hoạch sắp xếp lực lượng hợp lý, khoa học để những đồng chí chưa đi học cùng nhau chia sẻ, gồng gánh trách nhiệm, nhiệm vụ cho đồng đội khác yên tâm đi học. Hằng năm, Viện đã sắp xếp gửi hàng chục y, bác sĩ, dược sĩ đi đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở các trường của Bộ. Đồng thời mở hai lớp học tiếng Anh tại Viện để y, bác sĩ có trình độ ngoại ngữ đủ khả năng tự đọc tài liệu chuyên môn tiếp cận với khoa học hiện đại tốt hơn.

Bước vào năm 1991, tình hình Bệnh viện cơ bản đã ổn định và đi vào hoạt động có nền nếp. Tháng 5 năm 1991, Đội phẫu thuật làm nhiệm vụ đặc biệt ở nước bạn Campuchia đã hoàn thành nhiệm vụ và rút quân về nước. Trên cơ sở kế hoạch công tác năm đã được xây dựng, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện tập trung chỉ đạo hoàn thành kế hoạch công tác năm đã đề ra, trong đó tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ và xây dựng Bệnh viện ngày càng vững mạnh.

Tháng 8 năm 1991, Đảng bộ Bệnh viện tiến hành Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 1991-1993. Sau khi đánh giá kiểm điểm công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 1989-1991 và đề ra phương hướng lãnh đạo nhiệm kỳ 1991-1993, Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 7 đồng chí: Ngô Văn Bé Ba, Trương Minh Châu, Phan Minh Hùng, Cao Thị Tiến, Đỗ Hoàng Minh, Trần Đình Thăng và Bùi Anh Dũng. Đồng chí Ngô Văn Bé Ba được bầu giữ chức Bí thư, đồng chí Trương Minh Châu giữ chức Phó Bí thư.

 Sau Đại hội Đảng bộ một thời gian, đồng chí Trương Minh Châu bị bệnh, được cấp trên cho đi điều trị sau đó nghỉ hưu. Đồng chí Phan Minh Hùng - Viện phó được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Bệnh viện và được chỉ định giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Bệnh viện (theo quy định mới từ năm 1991, Ban chỉ huy Bệnh viện được đổi thành Ban Giám đốc, Viện trưởng là Giám đốc, Viện phó là Phó Giám đốc).

Để đưa nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI vào thực tiễn cuộc sống công tác, Ban Giám đốc đã chỉ đạo các tổ chức quần chúng phát động các phong trào thi đua nhằm nâng chất lượng khám, chữa bệnh và xây dựng các khoa, ban vững mạnh hơn nữa. Nội dung thi đua đột kích tập trung rút ngắn thời gian điều trị cho thương binh, bệnh binh, với hình thức chấm điểm dùng ký hiệu bằng cờ xanh, đỏ… để ghi nhận hằng ngày, hằng tuần để kiểm tra; đồng thời tổ chức kiểm tra chéo để thúc đẩy mọi hoạt động thi đua. Cuối đợt thi đua đều có sơ kết, bình bầu các tập thể, cá nhân xuất sắc điển hình và tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời. Vì vậy thời gian này chất lượng điều trị cho bệnh nhân được nâng lên rõ rệt.

Bên cạnh nhiệm vụ chính trị trung tâm là điều trị, cứu chữa cho thương binh, bệnh binh, Bệnh viện còn chú trọng đến công tác vận động quần chúng. Trong năm, Bệnh viện cử nhiều đoàn cán bộ y, bác sĩ đem theo thuốc men xuống các vùng sâu, vùng xa của tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp... để khám chữa bệnh cho nhân dân.

Cuối năm 1991, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt nặng, Bệnh viện đã cử 15 đồng chí y, bác sĩ cùng với các đơn vị quân y của Quân khu về huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cứu chữa kịp thời cho các bệnh nhân. Việc làm của Bệnh viện đã được chính quyền và nhân dân các tỉnh, huyện nói trên khen ngợi và mến phục.

Tháng 11 năm 1991, đồng chí Trần Đình Thăng - Chủ nhiệm Khoa Nội 4 được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc, thay cho đồng chí Đỗ Hoàng Minh và đồng chí Vũ Viết Điến - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc, thay cho đồng chí Đặng Thế Khởi nghỉ hưu, đồng chí Nguyễn Trọng Sinh thay đồng chí Vũ Viết Điến giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung; bác sĩ Phạm Văn Hoàng thay bác sĩ Võ Tấn Minh giữ chức Chủ nhiệm Khoa Nội 1.

Ở các khoa, ban cũng có một số thay đổi, dược sĩ Trần Thị Hà được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Dược thay đồng chí Đoàn Quốc Thới; đồng chí Đỗ Chí Linh thay đồng chí Cao Thị Tiến giữ chức Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật - Hồi sức cấp cứu, đồng chí Cao Thị Tiến được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh thay bác sĩ Lê Vinh chuyển ngành; đồng chí Lê Thanh Hà thay đồng chí Trần Đình Thăng giữ chức Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm, đồng chí Lý Đình Tình giữ chức Chủ nhiệm Chính trị thay đồng chí Nguyễn Hữu Khoa nghỉ hưu.

Việc điều chỉnh biên chế, bổ sung, bổ nhiệm các đồng chí chỉ huy mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy ở Bệnh viện ngày càng trẻ hóa, phù hợp với thời kỳ mới, làm cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ năm 1991 và các năm tiếp theo.

Để đáp ứng nhu cầu chẩn đoán, phục vụ cho công tác điều trị, được sự quan tâm của Quân khu, Bệnh viện được trang bị máy siêu âm (đầu tiên), do bác sĩ Phạm Văn Hoàng phụ trách. Sau đó, Bệnh viện cử thêm bác sĩ Võ Ngọc Nuôi, bác sĩ Nguyễn Hồng Phong... tiếp tục đi học siêu âm. Nhờ vậy, chất lượng khám và chữa bệnh được nâng lên rõ rệt.

Năm 1992, nhiệm vụ chính trị trung tâm của Bệnh viện không thay đổi, tổ chức biên chế không có biến động nhiều. Tuy nhiên, được Bộ Tư lệnh Quân khu đồng ý và Cục Hậu cần chỉ đạo, bắt đầu từ tháng 3 năm 1992, Bệnh viện tổ chức điều trị cho nhân dân thu một phần viện phí và giao cho đồng chí Võ Ngọc Nuôi phụ trách Khoa Nhân dân. Cũng trong thời gian này, Khoa Cán bộ được thành lập và đi vào hoạt động. Bác sĩ Phạm Văn Hoàng - Chủ nhiệm Khoa Nội 1 được điều động sang làm Chủ nhiệm Khoa Cán bộ, bác sĩ Trương Hồng Thái thay bác sĩ Phạm Văn Hoàng làm Chủ nhiệm Khoa Nội 1 (Khoa này sau đổi tên thành Khoa A2). Ở Khoa Hồi sức cấp cứu, bác sĩ Đỗ Chí Linh - Chủ nhiệm Khoa chuyển công tác về Tỉnh đội Cần Thơ, bác sĩ Nguyễn Xuân Sách được bổ nhiệm thay bác sĩ Linh làm Chủ nhiệm Khoa.

Nhằm thực hiện chủ trương tổ chức điều trị cho nhân dân, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã đề ra hàng loạt các biện pháp tổ chức thực hiện và nêu chủ trương lãnh đạo cụ thể: “... Việc tổ chức điều trị cho nhân dân thu một phần viện phí, trước hết thông qua năng lực chuyên môn, trách nhiệm thái độ của người thầy thuốc quân y để củng cố, nâng cao niềm tin, tình cảm của nhân dân với bộ đội; đồng thời có thêm một phần thu nhập để đầu tư cải tiến cơ sở vật chất, kỹ thuật của Bệnh viện, nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện một phần đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ. Quá trình tổ chức thực hiện phải bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, công khai, có chú ý gia đình chính sách, hộ đói nghèo, cơ nhỡ”.

Đảng ủy, Ban Giám đốc yêu cầu các chi bộ, khoa, ban, các tổ chức quần chúng trong Bệnh viện làm tốt công tác giáo dục chính trị, nhất là giáo dục y đức cho đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên phục vụ. Các chủ nhiệm khoa phải thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình điều trị và ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ của y, bác sĩ trong khoa mình. Đồng thời, nhắc nhở mọi người chấp hành nghiêm túc quy định của Quân khu và của Bộ Y tế về việc điều trị cho nhân dân thu một phần viện phí.

Chính nhờ những biện pháp lãnh đạo sát với tình hình thực tế, công tác điều trị cho nhân dân đã thu được những kết quả bước đầu rất khả quan. Bệnh viện có thêm thu nhập để cải tạo nâng cấp, sửa chữa nhà cửa, phòng bệnh nhân và cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Bệnh viện. Và điều quan trọng là uy tín của Bệnh viện đối với nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long được nâng lên rõ rệt.

Cuối năm 1992, đồng chí Trương Quang Sơn - Trưởng ban Hành chính nghỉ hưu, đồng chí Tô Văn Phòng  được bổ nhiệm thay đồng chí Sơn.

Năm 1993, căn cứ vào chỉ lệnh công tác hậu cần của Quân khu và phương hướng nhiệm vụ ngành Quân y Quân khu, để bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, Bệnh viện đã tổ chức đội phẫu thuật gồm 2 bác sĩ, 4 y sĩ, 3 y tá, 4 phục vụ và 1 xe hồng thập tự có trang bị phương tiện chuyên môn phục vụ cho nhiệm vụ cơ động chiến đấu; 1 đội điều trị (thiếu), quân số 25 đồng chí, có 5 bác sĩ, 6 y sĩ, 8 y tá, 6 phục vụ; về trang bị có một phần do Phòng Quân y cấp, còn lại Bệnh viện tự bảo đảm. Các tổ, đội này thường xuyên được tập luyện và luôn sẵn sàng lên đường khi có lệnh.

Về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, thực hiện chỉ thị của Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần về đẩy mạnh phong trào Thi đua quyết thắng, ngày 25 tháng 2 năm 1993, Bệnh viện đã thành lập Hội đồng Thi đua cấp cơ sở, do đồng chí Giám đốc làm Chủ tịch, đồng chí Phó Giám đốc về Chính trị làm Phó Chủ tịch; các đồng chí Chủ nhiệm Chính trị, Chủ nhiệm Hậu cần, Trưởng ban Y vụ, Trưởng ban Hành chính là Ủy viên. Để đưa hoạt động thi đua của Bệnh viện vào nền nếp và có hiệu quả, cơ quan chính trị giúp Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xây dựng quy chế hoạt động thi đua. Cấp ủy các chi bộ, chủ nhiệm các khoa, ban là người trực tiếp tổ chức lãnh đạo thực hiện hoạt động thi đua.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã tạo khí thế thi đua sôi nổi trong các khoa, ban và là động lực thúc đẩy hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Vì vậy hoạt động thi đua của Bệnh viện được đổi mới một bước, chặt chẽ, có hiệu quả hơn.

Đối với công tác xây dựng Đảng, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết số 79/NQ-ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương và nghị quyết của Đảng ủy Cục Hậu cần về “Xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng”, ngày 20 tháng 7 năm 1993, Đảng ủy Bệnh viện đề ra chương trình hành động xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt nâng cao sức chiến đấu và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Chương trình hành động của Đảng ủy gồm 3 nội dung chính:

- Một là: Đánh giá tình hình tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng Đảng.

- Hai là: Phương hướng xây dựng cấp ủy, chi bộ và Đảng bộ trong sạch vững mạnh làm nòng cốt xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

- Ba là: Các biện pháp tổ chức thực hiện.

Chương trình hành động của Đảng ủy Bệnh viện đã được các cấp ủy, chi bộ quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc. Đa số đảng viên đã có bước chuyển biến về nhận thức, nâng cao được lập trường quan điểm, phương pháp xem xét. Từ đó xác định được trách nhiệm chính trị cao trong việc điều trị, phục vụ thương binh, bệnh binh; tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ năng lực. Đặc biệt đã có sự đổi mới về phong cách, tác phong công tác cho cán bộ, đảng viên đang giữ cương vị chỉ huy, đã biết đề cao dân chủ, phát huy sáng tạo của cán bộ chuyên môn vào nghiên cứu khoa học, công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị...

Năm 1993, hoạt động của Bệnh viện cơ bản đã đi vào nền nếp và có bước phát triển. Quý I năm 1993, sau khi có nghị quyết về khoa học và công nghệ của Đảng ủy Quân sự Trung ương và kế hoạch, hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học của ngành Quân y Quân khu, Bệnh viện đã quán triệt và triển khai đến tất cả các khoa, ban trong toàn Bệnh viện. Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất của các khoa, ban, Ban Giám đốc Bệnh viện nghiên cứu xem xét đánh giá chặt chẽ các đề tài, nhất là giá trị thực tiễn của từng đề tài, sau đó mới giao chỉ tiêu, giao đề tài cho từng khoa, từng bác sĩ theo chuyên ngành và theo yêu cầu thực tế của việc khám và điều trị thương binh, bệnh binh. Vì vậy, công tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện ngày càng được các y, bác sĩ chú trọng và đầu tư thời gian, công sức thực hiện. Bệnh viện đã chọn được các đề tài có giá trị đi dự Hội nghị khoa học kỹ thuật quân, dân y, gồm: “Điều trị thần kinh hông to bằng thuốc Nam và châm cứu” của bác sĩ Trương Hồng Thái, “Điều trị viêm đại tràng mãn bằng phương pháp thụt giữ” của bác sĩ Phan Hồng Phúc, “Nhận xét điều trị tâm thần phân liệt” của bác sĩ Nguyễn Đình Phước, “Điều trị lao bằng phác đồ DOTS” của bác sĩ Trần Minh Hiền, “Nhận xét bước đầu điều trị 26 bệnh nhân tai biến mạch máu não” của bác sĩ Nguyễn Xuân Sách và “Nhận xét kết quả điều trị 252 bệnh nhân bướu giáp nhân” của bác sĩ Vũ Đăng Trung, được Hội nghị đánh giá cao. Ngoài ra, còn có một số đề tài được báo cáo trong Hội nghị ngoại khoa toàn quân tại Viện Quân y 108 và Viện Quân y 175 như: “Tai biến sớm sau mổ viêm ruột thừa cấp”, “Dị dạng mạc treo đại tràng lên do dây chằng Last ở người trưởng thành”, “Tắc mạch mạc treo trên bệnh nhân tiểu đường”… Đó là sự ghi nhận những cố gắng của đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

Về công tác hậu cần đời sống có bước chuyển biến đáng kể, nhờ làm tốt công tác quản lý, nhất là quản lý về tài chính nên chất lượng bữa ăn hằng ngày cho thương binh, bệnh binh thường xuyên có 3 món. Hằng ngày, Ban Hậu cần cử người xuống kiểm tra, giám sát việc cân đong đo đếm lương thực, thực phẩm. Việc chỉ đạo sát sao và kiểm tra chặt chẽ của cơ quan đã hạn chế đến mức thấp nhất việc thất thoát lương thực, thực phẩm.

Năm 1993, công tác xây dựng cơ bản cũng được chú trọng, Bệnh viện được Quân khu đầu tư xây dựng Khoa Cán bộ - đây là công trình lớn, kiên cố đầu tiên với tổng kinh phí 800 triệu đồng, do Phòng Doanh trại Quân khu thiết kế. Đến tháng 12 năm 1993, công trình Khoa Cán bộ đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng với 20 giường bệnh, khang trang, sạch đẹp, là nơi điều trị cho cán bộ từ cấp thiếu tá trở lên.

Bước vào năm 1994, nhằm không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng thu dung, điều trị và hoàn thiện công tác quản lý bệnh, Cục Hậu cần đã thành lập đoàn kiểm tra toàn diện giữa các bệnh viện trong Quân khu. Trong hai ngày (24 và 25.1.1994), đoàn kiểm tra chéo của Cục Hậu cần gồm Bệnh viện Quân y 121, Phòng Quân y và Đội Vệ sinh phòng dịch Quân khu do đồng chí Nguyễn Văn Út làm Trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra Bệnh viện Quân y 120.

Căn cứ vào 5 quan điểm, 6 quản lý, 10 chế độ và thực tế kiểm tra bệnh viện, đoàn kiểm tra đánh giá: “... Tất cả các khoa, ban xác định tốt quan điểm phục vụ, theo dõi, chăm sóc bệnh nhân chu đáo, tinh thần, thái độ phục vụ tốt, uy tín của Bệnh viện ngày một tăng đối với nhân dân và các đơn vị của Quân khu; kết hợp y học hiện đại với y học dân tộc, các khoa hồi sức (nội, ngoại, chuyên khoa) tận dụng các phương pháp điều trị toàn diện, kết hợp với chẩn đoán của chuyên khoa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa Tây y với Đông y, châm cứu, vật lý trị liệu. Vì vậy, giảm ngày nằm điều trị,  thực hiện nghiêm các chế độ quản lý bệnh viện...”[12] .

Kết quả đánh giá của đoàn kiểm tra đã khẳng định bước phát triển mới của Bệnh viện về công tác chuyên môn và làm cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong Bệnh viện rất phấn khởi, vững tin vào khả năng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao giai đoạn tiếp theo.

Ngày 28 tháng 4 năm 1994, Đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ VII, nhiệm kỳ 1994-1996 khai mạc. Tại Đại hội, có 82 đại biểu tham dự. Đồng chí Nguyễn Minh Hải thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy Cục Hậu cần về dự và chỉ đạo Đại hội. Trong hai ngày làm việc, Đại hội đã nghe quán triệt Nghị quyết hội nghị đại biểu Đảng bộ Cục Hậu cần giữa nhiệm kỳ khóa VI; thảo luận kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ 1991-1993 và phương hướng lãnh đạo nhiệm kỳ 1994-1996 của Bệnh viện.

Đánh giá về công tác lãnh đạo nhiệm kỳ qua, báo cáo chính trị tại Đại hội nêu rõ: “... Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, bệnh tật ngày càng đa dạng, phức tạp, nhưng Đảng bộ đã lãnh đạo hoàn thành tốt công tác cấp cứu, thu dung, điều trị, nuôi dưỡng bệnh nhân tốt... Chú trọng đầu tư đào tạo cán bộ chuyên môn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cấp cứu, phẫu thuật và điều trị nội, ngoại khoa có hiệu quả. Công tác xây dựng Đảng chất lượng được nâng lên một bước, nội bộ đoàn kết, tác phong, phương pháp làm việc của Đảng ủy, cấp ủy chi bộ được đổi mới. Qua phân tích chất lượng đảng viên, 100% đảng viên đủ tư cách, 5 chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh; trong nhiệm kỳ đã phát triển được 13 đảng viên mới...”.

Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ việc giáo dục chính trị cho cán bộ, đảng viên có làm nhưng chưa triệt để nên vẫn còn một số đồng chí y, bác sĩ chưa thật sự an tâm trong thực hiện nhiệm vụ; một số đồng chí thiếu gương mẫu trong công tác, trong lối sống, sinh hoạt, thậm chí có cán bộ vi phạm kỷ luật.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí: Ngô Văn Bé Ba, Phan Minh Hùng, Trần Đình Thăng, Lý Đình Tình, Vũ Viết Điến, Phạm Minh Hoàng, Cao Thị Tiến, Bùi Anh Dũng và Trương Hồng Thái. Đồng chí Ngô Văn Bé Ba - Phó Giám đốc về Chính trị được bầu giữ chức Bí thư, đồng chí Phan Minh Hùng - Giám đốc giữ chức Phó Bí thư.

Vào những tháng cuối quý III năm 1994, tình hình mưa lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn biến hết sức phức tạp, lũ lụt kéo dài trên diện rộng, thiệt hại về y tế cũng như các thiệt hại khác rất lớn. Hằng trăm trạm y tế bị ngập lụt, không có điều kiện hoạt động. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, điều kiện sinh hoạt của nhân dân hết sức khó khăn, không bảo đảm những tiêu chuẩn vệ sinh tối thiểu, nguy cơ dịch bệnh xảy ra.

Trước tình hình đó, thực hiện Chỉ thị số 662/CT-QP ngày 28 tháng 10 năm 1994 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chỉ thị số 56/CT-QY ngày 2 tháng 11 năm 1994 của Phòng Quân y Quân khu về việc huy động lực lượng quân y giúp dân chống lũ lụt, Bệnh viện Quân y 120 đã thành lập các tổ quân y cơ động, gồm 2 bác sĩ, 4 y sĩ, 4 y tá, 2 nhân viên mang theo trang bị và thuốc men phối hợp với lực lượng quân y các tỉnh, các đơn vị đóng quân trên địa bàn, xuống giúp y tế các xã thuộc các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang; huyện Tân Hồng, Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Trong 20 ngày, các tổ quân y đã khám và cấp thuốc miễn phí cho hàng ngàn lượt đồng bào với tổng kinh phí gần 20 triệu đồng. Việc làm của Bệnh viện càng thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với lực lượng vũ trang nói chung và Bệnh viện Quân y 120 nói riêng.

Trung tuần tháng 11 năm 1994, tỉnh Tiền Giang tổ chức Hội thao kỹ thuật y tế quốc phòng toàn dân lần thứ nhất. Theo yêu cầu của tỉnh, Bệnh viện cử 7 đồng chí tham gia Ban giám khảo và Ban chấm thi. Ban giám khảo gồm 5 đồng chí, do bác sĩ Phan Minh Hùng - Giám đốc Bệnh viện làm Trưởng ban. Ban chấm thi gồm 12 đồng chí, do bác sĩ Vũ Viết Điến - Phó Giám đốc Bệnh viện làm Trưởng ban. Ủy viên gồm các đồng chí: bác sĩ Vũ Đăng Trung, bác sĩ Phạm Minh Hoàng, bác sĩ Trương Hồng Thái, bác sĩ Nguyễn Xuân Sách, bác sĩ Ngô Đình Xuân.

Trong quá trình hội thao, các đồng chí trong Ban giám khảo và Ban chấm thi đã phát huy hết tinh thần trách nhiệm, chấm chính xác thành tích, kết quả thi đấu từng môn, từng người. Ngoài ra, còn tham gia vào việc kiểm tra địa điểm, dụng cụ, vật chất thi đấu và phát hiện các mặt chưa bảo đảm đúng tiêu chuẩn, thiếu an toàn, góp phần quan trọng vào thành công của hội thi. Hội thi được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang khen ngợi.

Cũng trong thời gian này, theo tổ chức biên chế mới, Bệnh viện Quân y 120 không còn chức danh Phó Giám đốc về Hậu cần nên đồng chí Bùi Anh Dũng - Phó Giám đốc về Hậu cần được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Hậu cần Bệnh viện. Như vậy, đến cuối năm 1994, Ban Giám đốc Bệnh viện chỉ có 4 đồng chí là: Phan Minh Hùng - Giám đốc, Ngô Văn Bé Ba - Phó Giám đốc về Chính trị, Trần Đình Thăng - Phó Giám đốc Nội, Vũ Viết Điến - Phó Giám đốc Ngoại. Biên chế các khoa, ban không có thay đổi; nhiệm vụ ổn định, đó là những thuận lợi cơ bản để Bệnh viện thực hiện nhiệm vụ năm 1995.

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-ĐU ngày 9 tháng 1 năm1995 của Đảng ủy Cục Hậu cần về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 1995 và kế hoạch bảo đảm quân y năm 1995 số 05/QY-KH của Phòng Quân y Quân khu, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế của Bệnh viện, Đảng ủy, Ban Giám đốc đã ra Nghị quyết lãnh đạo thực hiện các mặt công tác trong năm và chỉ đạo các khoa, ban dựa trên tính chất nhiệm vụ của mình để xây dựng kế hoạch công tác cho phù hợp. Ban Giám đốc điều hành thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch chung.

Xuất phát từ tình hình số lượng bệnh nhân nhân dân trong khu vực vào viện ngày càng đông, để nâng cao khả năng khám và điều trị cho bệnh nhân, Bệnh viện đã đầu tư mua sắm mới 1 máy điện tim, 1 máy xông mũi, 2 máy chiếu laser; sửa chữa bảo dưỡng 1 tủ sấy, 1 tủ lạnh, 1 máy điều hòa... Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn hằng ngày, kiểm tra chéo, kiểm tra từng khoa; vì vậy đã hạn chế được những sai sót trong quá trình khám và chữa bệnh, tăng được tỉ lệ ra viện, rút ngắn ngày điều trị, giảm được tỉ lệ chuyển viện và tử vong.

Điển hình trong năm, Bệnh viện đã điều trị thành công một số bệnh nhân nặng và phức tạp, như trường hợp ông Võ Đức Truyền, 61 tuổi, ở Mỹ Long, Cai Lậy, Tiền Giang, là thương binh 1/4, có các bệnh kèm theo liệt 1/2 người do tai biến mạch máu não và hen phế quản, viêm xương do bị thương và mất đoạn xương chày do vết thương cũ. Khi đưa vào Bệnh viện, bệnh nhân được chẩn đoán là viêm ruột thừa, phải phẫu thuật gấp. Nhưng một khó khăn đặt ra là không thể gây mê được vì bệnh nhân bị tai biến mạch máu não và hen phế quản. Sau khi hội chẩn, Ban Giám đốc Bệnh viện đã quyết định dùng phương pháp gây tê tại chỗ để tiến hành phẫu thuật và giao cho kíp mổ gồm 2 bác sĩ Nguyễn Xuân Sách, Nguyễn Văn Trãi và 2 y sĩ gây mê là Bùi Văn Bé, Nguyễn Thị Lệ Tuyền thực hiện. Một khó khăn nữa là sau khi mổ vào ổ bụng, kíp mổ phát hiện ruột thừa nằm sau phúc mạc. Các bác sĩ đã xử lý bằng cách cắt ruột thừa ngược dòng. Sau 2 giờ làm việc căng thẳng, ca mổ đã thành công tốt đẹp trong niềm vui khôn tả của gia đình và các đồng nghiệp trong Bệnh viện.

Cùng với hoạt động chuyên môn của các khoa, ban, hoạt động của Công đoàn cơ sở Bệnh viện cũng được quan tâm đẩy mạnh, nhất là đổi mới phương thức hoạt động, các công đoàn bộ phận đã chú trọng hơn đến đời sống, quyền lợi và nghĩa vụ của đoàn viên, công nhân viên trong bộ phận mình. Thực hiện chỉ đạo của Ban Công đoàn Quân khu và Công đoàn Cục Hậu cần, ngày 16 tháng 6 năm 1995, Công đoàn cơ sở Bệnh viện đã có hướng dẫn cho các Công đoàn bộ phận tiến hành Đại hội nhiệm kỳ và từ ngày 27 đến 29 tháng 6 năm 1995 nhằm kiểm điểm đánh giá hoạt động nhiệm kỳ 1994-1995. Thảo luận đề ra phương hướng hoạt động nhiệm kỳ tới 1995-1997 và bầu Ban chấp hành Công đoàn mới. Thành công của Đại hội Công đoàn các bộ phận đã góp phần tích cực vào nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn Bệnh viện trong những năm tiếp theo.

Cuối năm 1995, đồng chí Ngô Văn Bé Ba - Phó Giám đốc về Chính trị được trên cho nghỉ hưu, đồng chí Lý Đình Tình - Chủ nhiệm Chính trị được bổ nhiệm chức Phó Giám đốc về Chính trị; đồng chí Lê Tấn Luật giữ chức Chủ nhiệm Chính trị thay đồng chí Tình. Những thay đổi về lãnh đạo, chỉ huy vừa qua là tiếp tục quy trình quy hoạch, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ, khỏe, năng động, có năng lực và trách nhiệm cao, là cơ sở để Bệnh viện Quân y 120 hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm tiếp theo.

Từ năm 1990 đến năm 1995, mặc dù Bệnh viện gặp rất nhiều khó khăn trên tất cả các mặt, nhất là về cơ sở vật chất và tổ chức biên chế không ổn định, nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu, Bệnh viện Quân y 120 đã vượt qua mọi khó khăn, nhanh chóng ổn định tình hình đơn vị, tổ chức thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh và nhân dân ngày càng có chất lượng, uy tín của Bệnh viện ngày càng được khẳng định không chỉ trong lực lượng vũ trang Quân khu, mà còn tạo được lòng tin yêu của nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên nâng cao khí thế thi đua cho tất cả các khoa, ban. Từ đó, giúp Bệnh viện hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo.

II. VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH, BỆNH VIỆN VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN (1996 - 2007)

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thu được những thành tựu to lớn bước đầu rất quan trọng. Với cương lĩnh, đường lối đúng đắn, nước ta đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế, là cơ sở để Đảng ta tiếp tục lãnh đạo toàn dân, toàn quân bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Địa bàn Quân khu 9 là một trong những trọng điểm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đồng thời là địa bàn thường xuyên bị thiên tai lũ lụt. Vì vậy, tình hình chung, nhất là về kinh tế, xã hội của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và lực lượng vũ trang gặp không ít khó khăn.

Đối với Bệnh viện Quân y 120, trải qua 6 năm phấn đấu về mọi mặt đã củng cố quy hoạch và xây dựng mới một số khoa, bước đầu tháo gỡ được một số khó khăn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoa, ban, các lán bệnh đã xuống cấp trầm trọng nhưng chưa được đầu tư sửa chữa và xây mới. Phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ y tế vẫn thiếu đồng bộ, đội ngũ chuyên môn thiếu chuyên khoa sâu, nhất là cán bộ đại học, sau đại học về cận lâm sàng. Trong khi đó, nhiệm vụ thu dung, điều trị, cấp cứu, chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ hưu trí, bệnh nhân thuộc các gia đình chính sách trong khu vực sông Tiền và nhân dân trên địa bàn ngày càng tăng. Trước yêu cầu bức xúc trên, đòi hỏi phải nâng lên một bước mới về chất lượng và hiệu quả khám chữa bệnh, theo chỉ đạo của Phòng Quân y Quân khu, trong năm Bệnh viện phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên môn, triển khai có hiệu quả Chương trình y tế quốc gia số 12 (gọi tắt là Chương trình 12)[13], xây dựng quân y tuyến cơ sở. Đồng thời đẩy mạnh công tác tăng gia sản xuất, làm kinh tế (khám và chữa bệnh dịch vụ) để tăng thu nhập, mua sắm thêm trang thiết bị chuyên môn và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên toàn Bệnh viện...

Nhiệm vụ nặng nề, cán bộ chuyên môn giỏi còn thiếu, trang thiết bị lạc hậu không đồng bộ... Để hoàn thành nhiệm vụ, ngay từ đầu năm 1996, Ban Giám đốc Bệnh viện đã xác định, không được trông chờ, ỷ lại vào trên mà phải phát huy ý thức tự lực tự cường, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Trên cơ sở biên chế, cơ sở vật chất hiện có, các khoa, ban, các chi bộ phải làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xác định quyết tâm để mỗi cán bộ, công nhân viên, y, bác sĩ, nhân viên phục vụ xác định tốt trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Bệnh viện duy trì một đội phẫu thuật gồm 12 y, bác sĩ và nhân viên phục vụ, do bác sĩ Nguyễn Trọng Sinh phụ trách. Đội phẫu thuật này luôn luôn sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi có lệnh.

Đầu năm 1996, Bệnh viện tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, nhiệm kỳ 1996-1998 và đại hội các chi bộ. Trong Đại hội, các cấp ủy viên và chi bộ đã quán triệt, tổ chức thực hiện đúng chỉ thị của Ban Bí thư, chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, hướng dẫn của Cục Chính trị Quân khu, làm tốt công tác tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), nghiên cứu học tập các chuyên đề về định hướng công tác tư tưởng trong tình hình mới cho cán bộ, đảng viên.

 Quá trình Đại hội Đảng bộ Bệnh viện đã kiểm điểm, đánh giá đúng thực chất việc thực hiện nhiệm vụ, kiểm điểm nghiêm túc những thiếu sót, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ qua. Đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp cụ thể cho nhiệm kỳ tới.

Đại hội bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1996-1998 gồm 9 đồng chí là: Phan Minh Hùng, Lý Đình Tình, Trần Đình Thăng, Lê Tấn Luật, Vũ Viết Điến, Bùi Anh Dũng, Phạm Minh Hoàng, Cao Thị Tiến và Trương Hồng Thái. Đồng chí Lý Đình Tình - Phó Giám đốc về Chính trị được bầu làm Bí thư, đồng chí Phan Minh Hùng - Giám đốc được bầu làm Phó Bí thư, đồng chí Trần Đình Thăng là Ủy viên Thường vụ.

Sau Đại hội, các tổ chức cơ sở đảng được củng cố, kiện toàn, năng lực lãnh đạo của cấp ủy chi bộ và đội ngũ cán bộ được nâng lên rõ rệt, tạo cơ sở, không khí mới cho việc thực hiện nhiệm vụ của Bệnh viện.

Với phương châm “Chẩn đoán sớm, khai thác bệnh sử sâu, kỹ, khám bệnh tỉ mỉ, có thái độ, quan điểm, tâm lý tiếp xúc tốt”, công tác chuyên môn của Bệnh viện đã có bước phát triển tốt về chất lượng khám chữa bệnh; nâng cao được tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ bệnh nhân, không phân biệt bệnh nhân là bộ đội hay nhân dân và không để xảy ra tiêu cực trong quá trình điều trị cho bệnh nhân.

Năm 1996, công tác điều trị kể cả nội khoa và ngoại khoa số lượng bệnh nhân tăng, tính chất bệnh rất đa dạng, phức tạp, nhiều bệnh mãn tính hiểm nghèo, tập trung ở người già lớn tuổi và cán bộ hưu trí, bệnh nhân bị lao phổi và tâm thần phải điều trị lâu dài... Y, bác sĩ, y tá và nhân viên phục vụ các khoa đã có nỗ lực rất lớn trong điều trị, phải trực liên tục, không có thời gian nghỉ bù. Điểm nổi bật là cả nội, ngoại khoa và phẫu thuật không có trường hợp nào tai biến xảy ra hoặc tử vong do thiếu tinh thần trách nhiệm. Trong năm đã điều trị thành công một số trường hợp bệnh nhân nặng và phức tạp, điển hình là bệnh nhân Nguyễn Văn Lữ, 64 tuổi, cắt cụt 1/3 dưới đùi (P) biến chứng sớm trong thời gian hậu phẫu, thủng dạ dày và xuất huyết tiêu hóa mức độ nặng, Bệnh viện đã phải cấp cứu và truyền 13 đơn vị máu cứu sống được bệnh nhân này, đây là một thành công lớn về chuyên môn. Bệnh nhân Trần Minh Nhân, 20 tuổi, chẩn đoán viêm phúc mạc toàn bộ, thủng hồi tràng do thương hàn, vào viện muộn, bệnh nhân trong tình trạng sốt cao liên tục, toàn thân suy kiệt nặng, bụng chướng có triệu chứng viêm phúc mạc điển hình, bệnh nhân được phẫu thuật cấp cứu và sau một thời gian điều trị tích cực, bệnh nhân ra viện sức khỏe tốt.

Để từng bước tiếp cận, nâng cao khả năng của Bệnh viện sát với nền y học hiện đại, cùng với công tác khám và điều trị cho bệnh nhân, công tác tổng kết, nghiên cứu khoa học ngày càng được Bệnh viện quan tâm. Cả hai lĩnh vực điều trị nội khoa và ngoại khoa đều có các đề tài nghiên cứu được ứng dụng có hiệu quả. Điển hình như Khoa Nội 4 có đề tài nghiên cứu khoa học về “Đánh giá kết quả điều trị thương hàn bằng kháng sinh ofloxacin” được báo cáo tại Hội nghị tuyến khu vực sông Tiền; Khoa Y học dân tộc có đề tài về “Kết quả điều trị quang châm bằng laser”; Khoa Hồi sức cấp cứu báo cáo đề tài về “Nhận xét bước đầu điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu bằng PAM và Atropin”. Trong năm, có 4 đề tài được đăng trên Tạp chí Y học quân sự. Song song với việc khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu khoa học, Bệnh viện thường xuyên hoặc định kỳ tổ chức những buổi sinh hoạt khoa học ở quy mô cấp khoa, ban, nhằm kịp thời phổ biến những kinh nghiệm trong chẩn đoán, điều trị bệnh, phổ cập những thông tin y học hiện đại trên thế giới. Bên cạnh đó, những sáng kiến, sáng tạo phục vụ công tác điều trị bệnh, như: tạo ra nẹp Climov cải biên, móc rút đinh nội tủy xương đùi, thiết kế giá kéo liên tục xương đùi, giá kéo nắn xương bằng rọ mây… cũng đã hỗ trợ tích cực trong việc phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân.

Từ nguồn thu dịch vụ, ngoài việc cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên và đưa vào bữa ăn thêm cho thương binh, bệnh binh, Bệnh viện còn mua sắm thêm dụng cụ cho các khoa như máy điện tim, máy ly tâm Hématocrít, máy siêu âm và máy giúp thở Acoma... phục vụ có hiệu quả cho các hoạt động cận lâm sàng và đáp ứng một phần các yêu cầu trong chẩn đoán, điều trị.

Trong điều kiện kinh phí trên cấp còn hạn hẹp, Bệnh viện đã chỉ đạo ngành và công tác bảo đảm hậu cần đã có nhiều biện pháp bảo đảm cho hoạt động của Bệnh viện ngày càng tốt hơn, từ bảo đảm quân nhu, xăng xe đến doanh trại. Đặc biệt là công tác xây dựng cơ bản đã xây dựng xong Khoa Hồi sức cấp cứu với diện tích gần 1.000m2, mua sắm hai bồn chứa nước Inox 3.000m3 và bảo đảm nước sạch cho toàn Bệnh viện... Những cố gắng của cơ quan hậu cần đã thực sự mang lại lợi ích thiết thực đến đời sống cán bộ, công nhân viên toàn Bệnh viện.

Cũng trong năm 1996, đồng chí Bùi Ngọc Thụ được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Chuyên khoa thay đồng chí Phí Vĩnh Bảo, đồng chí Dương Văn Thành được bổ nhiệm thay đồng chí Lê Thanh Hà - Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm, đồng chí Bảo và đồng chí Hà chuyển về Bệnh viện Quân y 175; đồng chí Bùi Anh Dũng - Chủ nhiệm Hậu cần được điều động về Cục Hậu cần Quân khu, đồng chí Tô Văn Phòng được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Hậu cần thay đồng chí Dũng.

Trung tuần tháng 1 năm 1997, qua nghiên cứu, quán triệt, học tập những chuyên đề của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, để đưa những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, Đảng ủy Bệnh viện đã xây dựng chương trình hành động nhằm xây dựng Bệnh viện ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới. Mục tiêu của chương trình là làm cho mỗi cấp, mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng Bệnh viện phát triển thật vững chắc, có chất lượng... Để đạt được mục tiêu ấy, yêu cầu các tổ chức cơ sở đảng phải nâng cao hơn nữa năng lực lãng đạo và sức chiến đấu, phát huy hơn nữa dân chủ, đoàn kết thống nhất, ý chí tự lực tự cường, chống những tư tưởng tiêu cực, tổ chức tốt các hoạt động thi đua...

Thực hiện chương trình hành động của Đảng ủy Bệnh viện, các chi bộ, các khoa, ban đã tổ chức quán triệt và đề ra chỉ tiêu thi đua cho từng cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ của khoa, ban mình. Chính vì vậy, phong trào thi đua của Bệnh viện được đẩy mạnh và đạt được kết quả tốt.

Theo Chỉ thị 70/QY-CT12 của Phòng Quân y Quân khu về việc sơ, tổng kết kết quả thực hiện kết hợp quân, dân y khám, chữa bệnh cho nhân dân theo Chương trình y tế quốc gia số 12 giai đoạn 1990 - 1997, tháng 8 năm 1997, căn cứ vào tình hình thực tế, Bệnh viện đã tổ chức hội nghị sơ kết công tác này. Tới dự có đại biểu Cục Hậu cần, Phòng Quân y Quân khu, sở y tế các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và cán bộ các khoa, ban trong Bệnh viện.

Đánh giá về thực hiện Chương trình y tế quốc gia số 12, báo cáo của Bệnh viện nêu rõ: “... Mặc dù quy mô Bệnh viện nhỏ, địa bàn đảm nhiệm rộng, chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, vùng kháng chiến cũ, thường xuyên xảy ra lũ lụt, dân trí thấp... Nhưng cán bộ, chiến sĩ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện đã quán triệt tốt nhiệm vụ, nêu cao trách nhiệm của mỗi người trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng; thực hiện tốt Chương trình y tế quốc gia số 12, đội ngũ y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện đã góp phần củng cố sự gắn bó, đoàn kết quân, dân, góp phần xây dựng thế trận lòng dân của người chiến sĩ quân y trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Từ năm 1990 đến tháng 8 năm 1997, Bệnh viện đã cử 28 lượt y, bác sĩ, y tá mang theo dụng cụ, thuốc men về các huyện Thanh Bình, Tam Nông, Hồng Ngự, Tân Hồng (Đồng Tháp); Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành (Tiền Giang), khám và điều trị cho 12.477 lượt người; tuyên truyền chính sách y tế cộng đồng cho 13.100 lượt người, cấp thuốc miễn phí trị giá hơn 10 triệu đồng. Riêng ở ba huyện của tỉnh Tiền Giang, Bệnh viện đã khám, điều trị cho 2.115 lượt người (trong đó có 7 mẹ Việt Nam Anh hùng, 12 thương binh, 5 đối tượng thuộc gia đình liệt sĩ). Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh, liệt sĩ, Bệnh viện đã cùng với Hội Phụ nữ tỉnh Tiền Giang đến khám, chữa bệnh và thăm hỏi 1.028 lượt người thuộc đối tượng chính sách; tặng 4 sổ tiết kiệm trị giá 1 triệu đồng; nhận nuôi dưỡng đến cuối đời mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Lụa ở phường 6, thành phố Mỹ Tho, mỗi tháng 150.000 đồng; xây nhà tình nghĩa cho mẹ Trần Thị Cửu ở Cai Lậy (Tiền Giang).

Ngoài ra, Bệnh viện còn cử các bác sĩ có kinh nghiệm, có trách nhiệm, nhiệt tình xuống giúp đỡ và tham gia làm giám khảo ở hội thao, diễn tập quân y cho ba tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, đã góp phần quan trọng vào thành công của các đợt diễn tập ở địa phương... Kết quả trên đã khẳng định được vị trí của Bệnh viện trong thực hiện Chương trình y tế quốc gia số 12.

Hội nghị cũng đã rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng thực hiện chương trình kết hợp quân, dân y trong thực hiện chăm sóc sức khỏe người nghèo, nhân dân, bộ đội vùng sâu, vùng xa giai đoạn 1998 - 2000.

Cuối năm 1997, đồng chí Trương Hồng Thái - Chủ nhiệm Khoa A2 được điều về giữ chức Trưởng ban Kế hoạch - Tổng hợp thay đồng chí Đào Xuân Hào nghỉ hưu; đồng chí Phan Hồng Phúc thay đồng chí Dương Văn Thành - Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm bị bệnh. Thời gian này, Khoa Y học cổ truyền được sáp nhập vào Khoa A2 thành Phân khoa Y học cổ truyền, do bác sĩ Lê Duy Thụ giữ chức Chủ nhiệm.

Cùng với các khoa khác trong Bệnh viện, công tác của Ban Y vụ và Phòng khám năm 1998 đã có bước phát triển vượt bậc. Với chức năng là cơ quan tham mưu, tuy có nhiều bộ phận khác nhau nhưng Ban Y vụ đã bám sát nhiệm vụ của đơn vị, chủ động xây dựng kế hoạch, giải quyết kịp thời mọi yêu cầu của Ban Giám đốc. Đặc biệt là theo dõi giúp đỡ các khoa cận lâm sàng, thực hiện các chế độ cấp cứu, chế độ bệnh án kê đơn, chế độ tâm lý tiếp xúc... đi dần vào nề nếp. Đối với Phòng khám, thời gian này lượng bệnh nhân vào khám tăng cao, đối tượng vào khám bệnh đa số là đồng bào nghèo, lớn tuổi, bệnh mãn tính. Với tinh thần trách nhiệm và quan điểm phục vụ bệnh nhân, các y, bác sĩ, nhân viên Phòng khám đã vượt qua khó khăn, khám, kê đơn hợp lý, an toàn; theo dõi sát bệnh nhân các khoa để điều trị hợp lý, phân loại bệnh nhân vào khoa đúng tính chất bệnh. Phòng khám luôn chú trọng đến y đức người thầy thuốc, thái độ niềm nở, hòa nhã. Có một số trường hợp gia đình bệnh nhân quá nghèo, Phòng khám đã đề xuất với Ban Giám đốc miễn giảm viện phí. Chỉ tính trong 5 năm (1991-1995), Bệnh viện đã khám và điều trị miễn phí cho trên 9.305 lượt bệnh nhân nghèo, gia đình chính sách. Từ đó, bệnh nhân là nhân dân trong khu vực đến với Bệnh viện ngày càng đông.

Thực hiện kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị năm và hướng dẫn của Phòng Chính trị Cục Hậu cần, ngày 29 tháng 7 năm 1998, Đảng bộ Bệnh viện đã tổ chức Đại hội lần thứ IX, nhiệm kỳ 1998-2000. Về dự Đại hội có 90/92 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trong hai ngày làm việc, Đại hội đã thảo luận báo cáo chính trị do đồng chí Phan Minh Hùng - Bí thư Đảng ủy trình bày; tham gia đóng góp nhiều ý kiến vào phương pháp lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ tới và bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí: Phan Minh Hùng, Lý Đình Tình, Trần Đình Thăng, Vũ Viết Điến, Trương Hồng Thái, Cao Thị Tiến, Lê Tấn Luật, Lê Duy Thụ và Tô Văn Phòng. Ban Thường vụ gồm ba đồng chí: Lý Đình Tình - Phó Giám đốc về Chính trị được bầu làm Bí thư, Phan Minh Hùng - Giám đốc được bầu làm Phó Bí thư, Trần Đình Thăng - Phó Giám đốc Nội là Ủy viên. Đại hội bầu Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy 5 đồng chí: Lê Tấn Luật - Chủ nhiệm Chính trị là Chủ nhiệm; Lê Duy Thụ, Nguyễn Xuân Sách, Phan Hồng Phúc, Trần Đăng là Ủy viên.

Thành công của Đại hội Đảng bộ lần thứ IX đã tạo động lực thúc đẩy hoạt động của Bệnh viện tiến thêm một bước mới, kể cả công tác chuyên môn và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Phát huy thế mạnh của mình, Bệnh viện tiếp tục xây dựng nền nếp điều trị giúp dân và thu một phần viện phí. Trong năm, ngoài việc nộp về trên theo quy định, Bệnh viện đã trích quỹ phúc lợi xây dựng, sửa chữa một số công trình như nâng cấp rải nhựa các tuyến đường nội bộ trong Bệnh viện, cải tạo buồng bệnh kỹ thuật, nhà ở cho các khoa, ban và đưa thêm vào bữa ăn cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên 1.500 đồng/người/ngày; hỗ trợ các tổ chức quần chúng hoạt động và đưa vào hoạt động thi đua, khen thưởng.

Cùng với phong trào trồng “rau quanh nhà, hoa đẹp bên sân”, Bệnh viện đã mạnh dạn cải tạo đất hoang, đào ao, lên liếp trồng được 420 gốc nhãn tiêu, 855 gốc xoài, thả 3.000 con cá các loại... Các khoa, ban đều có vườn hoa cây cảnh, tạo được cảnh quan, môi trường ngày càng khang trang, sạch đẹp.

Trước Đại hội Đảng bộ, về nhân sự các khoa có một số thay đổi, bác sĩ Phạm Văn Hoàng - Chủ nhiệm Khoa Cán bộ về thay đồng chí Phạm Minh Hoàng - Chủ nhiệm Khoa Cận lâm sàng nghỉ hưu, bác sĩ Võ Ngọc Nuôi - Chủ nhiệm Khoa Nhân dân được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Cán bộ, đồng chí Trịnh Thị Sứ - bác sĩ điều trị Khoa Nội chung thay bác sĩ Nuôi phụ trách Khoa Nhân dân. Năm 1998, Ban Tài chính được thành lập (tách ra từ Ban Hậu cần), đồng chí Trần Đăng được điều động từ Bệnh viện Quân y 121 chuyển về giữ chức Trưởng ban. Cũng trong thời gian này, đồng chí Phan Minh Hùng - Giám đốc Bệnh viện được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”.

Bước vào năm 1999, tình hình Bệnh viện cơ bản ổn định. Nhân kỷ niệm 109 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người, đồng thời thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng” theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), thực hiện kế hoạch của Cục Chính trị Quân khu và hướng dẫn của Phòng Chính trị Cục Hậu cần, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã xây dựng chương trình hành động cụ thể thiết thực, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Bệnh viện hiểu rõ ý nghĩa quan trọng và nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), hiểu sâu về vị trí then chốt, yêu cầu cấp bách của Cuộc vận động “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng” và công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới. Sau khi có chương trình hành động, Bệnh viện đã tổ chức đợt sinh hoạt trong toàn Đảng bộ, từng đảng viên, từng chi bộ tiến hành tự phê bình và phê bình. Đợt sinh hoạt đã mang lại kết quả tốt, tạo được sự nhất trí cao trong từng chi bộ và trong toàn Đảng bộ, làm cơ sở để từng cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng liên hệ sâu sắc, xác định rõ nội dung phấn đấu rèn luyện, gắn với nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện và chức trách được giao. Đồng thời, qua tự phê bình và phê bình góp phần tăng cường sự đoàn kết trong nội bộ các khoa cũng như toàn Bệnh viện, ngăn chặn kịp thời và xử lý kiên quyết những biểu hiện tiêu cực ở các chi bộ; nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong Đảng bộ và củng cố thêm lòng tin của quần chúng đối với Đảng.

Để xây dựng Bệnh viện theo hướng chính quy, thống nhất của Bộ Quốc phòng, ngày 4 tháng 9 năm 1999, Ban Giám đốc Bệnh viện đã chỉ đạo Ban Hậu cần làm đề án xây dựng cơ bản Bệnh viện từ năm 1999 đến 2000. Bản đề án gồm 4 công trình: Khoa Dược, Khoa Ngoại tổng hợp, nhà làm việc của Ban Giám đốc và hoàn chỉnh Khoa Lao. Dự kiến thời gian hoàn thành là 7 tháng, với tổng kinh phí 2 tỷ 52 triệu 563 ngàn đồng, trong đó Bệnh viện tự cân đối là 150 triệu đồng.

Theo Chỉ thị số 26/CT-ĐU của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, Hướng dẫn số 58/HD-CT của Cục Chính trị Quân khu, Hướng dẫn số 51/HD-CT của Phòng Chính trị Cục Hậu cần về việc sơ kết 6 năm xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nhằm đánh giá đúng thực chất kết quả lãnh đạo của Đảng bộ Bệnh viện qua quá trình xây dựng, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết 79/NQ-ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương về “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng” trong Đảng bộ Quân đội, ngày 20 tháng 8 năm 1999, Đảng bộ Bệnh viện đã tổ chức Hội nghị sơ kết 6 năm xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh (1993-1999). Hội nghị đã nghe báo cáo của Thường vụ Đảng ủy Bệnh viện đánh giá kết quả lãnh đạo, triển khai thực hiện nghị quyết cấp trên, đồng thời chỉ ra những thiếu sót khuyết điểm trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, như còn một vài cán bộ là cấp ủy viên có lúc còn xem nhẹ vai trò, tác dụng của Cuộc vận động, tính gương mẫu của một số ít cấp ủy viên và đảng viên có lúc chưa thực sự được phát huy, làm cản trở sự phát triển và xây dựng của Đảng bộ... Đồng thời, hội nghị cũng chỉ rõ nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm qua 6 năm xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Đây cũng là dịp để từng đảng viên, từng chi bộ, từng cấp ủy thấy rõ được những ưu khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng Đảng bộ Bệnh viện trong sạch vững mạnh, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Căn cứ vào nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Bệnh viện và nội dung hoạt động kết nghĩa giữa Bệnh viện Quân y 120 và Công ty Công trình giao thông tỉnh Tiền Giang được ký kết vào ngày 24 tháng 9 năm 1994, ngày 20 tháng 9 năm 1999, Công đoàn cơ sở Bệnh viện đã tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động kết nghĩa giữa Công đoàn cơ sở Bệnh viện và Công đoàn cơ sở Công ty Công trình giao thông tỉnh Tiền Giang. Tới dự Hội nghị có đại biểu cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và đoàn viên công đoàn cơ sở hai đơn vị.

Hội nghị thống nhất đánh giá, qua 5 năm kết nghĩa, tuy tính chất, nhiệm vụ của hai đơn vị khác nhau, nhưng hoạt động kết nghĩa của hai công đoàn cơ sở đã thu được kết quả tốt. Được sự ủng hộ của Ban Giám đốc Bệnh viện cho Công đoàn quản lý nhà gửi xe và sân bóng đá, thu tiền để làm công trình lưu niệm. Sau một thời gian tổ chức thực hiện, với tổng số tiền thu được và hoàn trả số tiền mượn ban đầu, hai công đoàn cơ sở đã có đủ 15 triệu đồng để cất một căn nhà tình nghĩa cho mẹ Trần Thị Đến, 72 tuổi, gia đình mẹ có 3 liệt sĩ ở ấp Phú Hòa, xã Phong Phú, Châu Thành tỉnh Tiền Giang. Chương trình hành động trên của hai tổ chức công đoàn đã mang lại ý nghĩa rất lớn, thông qua hoạt động này, đoàn viên hai công đoàn càng gần gũi, hiểu biết nhau hơn, đồng thời góp phần giáo dục đoàn viên công đoàn hai đơn vị về truyền thống “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” không chỉ là truyền thống của dân tộc mà còn là lẽ sống của giai cấp công nhân Việt Nam.

Ngoài ra, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” cũng được công đoàn cơ sở hai đơn vị thường xuyên duy trì. Nhân dịp các ngày lễ tết, công đoàn cơ sở đã chủ động đề xuất với thủ trưởng hai đơn vị, kết hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ tổ chức thành đoàn đến khám sức khỏe, cấp thuốc, thăm hỏi, tặng quà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ... Qua đó, góp phần động viên, an ủi những gia đình, cá nhân có công với cách mạng, được nhân dân và chính quyền địa phương tin yêu. Bên cạnh đó, hai tổ chức công đoàn còn tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; đặc biệt là giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Hai tổ chức công đoàn đã tổ chức lao động làm “Con đường kết nghĩa Công ty Công trình giao thông - Bệnh viện Quân y 120” để ghi nhớ, nhắc nhở mọi người về mối quan hệ tốt đẹp ấy.

Thời gian này, đồng chí Lý Đình Tình - Phó Giám đốc về Chính trị được Quân khu điều động về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang nhận công tác mới, đồng chí Lê Tấn Luật được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc về Chính trị. Đồng chí Trần Văn Hiền giữ chức Chủ nhiệm Chính trị thay đồng chí Lê Tấn Luật. Ngày 8 tháng 12 năm 1999, Đảng ủy Bệnh viện đã đề nghị Đảng ủy Cục Hậu cần Quân khu bổ sung đồng chí Lê Tấn Luật vào Thường vụ Đảng ủy Bệnh viện giữ chức Bí thư Đảng ủy, đồng chí Trần Văn Hiền - Chủ nhiệm Chính trị vào Ban chấp hành Đảng bộ Bệnh viện.

Năm 2000, là năm có nhiều sự kiện chính trị, xã hội quan trọng: Toàn Đảng tiến hành đại hội Đảng các cấp và chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, kỷ niệm 55 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 25 năm ngày giải phóng miền Nam 30-4. Đây là những sự kiện quan trọng, là điều kiện tốt để Bệnh viện đẩy mạnh hoạt động thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện không thay đổi, nhưng yêu cầu về chất lượng, hiệu quả thu dung, điều trị đòi hỏi phải được nâng lên; đồng thời tiến hành tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ X.

Tháng 1 năm 2000, đồng chí Nguyễn Phạm Trung sau khi tốt nghiệp đào tạo bác sĩ chuyên khoa II tại Học viện Quân y về, được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Bệnh viện.  

Với đội ngũ chủ nhiệm khoa và các y, bác sĩ đã có nhiều năm tay nghề, có nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán, cấp cứu, điều trị, Bệnh viện vững vàng bước vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm với một khí thế mới. Nổi bật trong năm là trình độ phẫu thuật của bác sĩ ngày càng được nâng lên, những ca khó như Basedow, sỏi đường tiết niệu, sỏi đường mật, phẫu thuật u xơ tuyến tiền liệt, phẫu thuật đóng đinh nội tủy xương đùi, kết xương kín kỳ đầu sớm do tai nạn được các bác sĩ Bệnh viện thực hiện thành công.

Đối với Khoa Truyền nhiễm, là một trong hai khoa tuyến cuối của Quân khu, chuyên thu dung, điều trị cho tất cả cán bộ, chiến sĩ, gia đình chính sách mắc bệnh lao, các bệnh truyền nhiễm, bệnh da liễu. Với tính chất phơi nhiễm, trong khi hệ thống cách ly chưa bảo đảm, cường độ làm việc cao, mức bồi dưỡng cho cán bộ, công nhân viên còn thấp, những yếu tố đó dễ nảy sinh những ngán ngại, né tránh và tư tưởng tiêu cực. Để hoàn thành nhiệm vụ, Ban Giám đốc Bệnh viện đã thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, phát huy sức mạnh của tổ đảng, của từng đảng viên và cán bộ, công nhân viên của khoa trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn phức tạp. Đồng thời, tạo được môi trường làm việc thoải mái, đoàn kết giúp đỡ nhau trong công việc. Chính vì vậy, Khoa đã cấp cứu thành công nhiều ca khái huyết nặng, trụy tim mạch ở bệnh nhân nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn, suy hô hấp ở bệnh nhân COPD, hen phế quản mức độ nặng. Điển hình là bệnh nhân Nguyễn Văn Lân - bộ đội bị khái huyết mức độ nặng do lao phổi, lượng máu bệnh nhân ho ra trong đêm đầu tiên khoảng 500ml, đã được các y, bác sĩ theo dõi sát và tích cực cấp cứu, điều trị kịp thời. Hoặc bệnh nhân Nguyễn Văn An, 89 tuổi, bị nhịp nhanh kịch phát trên thất với tần số 180 lần/phút, suy tim độ 4, lao phổi, lão suy, Bệnh viện đã cấp cứu và điều trị thành công. Qua đó, uy tín của Bệnh viện ngày càng được khẳng định và nâng lên.

Tháng 6 năm 2000, đồng chí Nguyễn Phạm Trung - Phó Giám đốc Bệnh viện được trên điều động chuyển về nhận công tác mới ở Bệnh viện Quân y 121 Quân khu 9, đồng chí Phạm Kiến Hòa - Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn bộ binh 4 được điều động về giữ chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện. Đến tháng 8 năm 2000, đồng chí Hồng Nhật Hùng - Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn bộ binh 330 được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Bệnh viện thay đồng chí Phan Minh Hùng nghỉ hưu. Cũng trong thời gian này, đồng chí Cao Thị Tiến - Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh nghỉ hưu, đồng chí Huỳnh Xuân Hoa được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa. Thời gian này, đồng chí Trần Đình Thăng và đồng chí Vũ Viết Điến là Phó Giám đốc Bệnh viện cùng đồng chí Cao Thị Tiến - Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”.

Quý II năm 2000, nhân sự Ban Giám đốc Bệnh viện có sự thay đổi, đồng chí Vũ Viết Điến - Phó Giám đốc được trên giải quyết cho nghỉ hưu.

 Ngày 8 tháng 9 năm 2000, Đảng bộ Bệnh viện tiến hành Đại hội lần thứ X, nhiệm kỳ 2000-2002. Đánh giá về kết quả lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 1998-2000, báo cáo chính trị nêu: “... Nhiệm kỳ qua, mặc dù tổ chức biên chế của Bệnh viện có lúc không ổn định, trang thiết bị, dụng cụ y tế tuy có được bổ sung nhưng còn thiếu nhiều. Mặt trái của cơ chế thị trường tác động nhiều mặt tới nhận thức tư tưởng và tâm tư tình cảm của cán bộ, công nhân viên... nhưng Đảng bộ đã lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong 2 năm đã cấp cứu kịp thời, có hiệu quả cho 2.133 ca, phẫu thuật 4.294 ca an toàn không xảy ra tai biến... Duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện các chế độ Bệnh viện, bảo đảm tỷ lệ sử dụng giường, giảm được ngày điều trị, tăng tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh ra viện, duy trì tốt công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học... Lãnh đạo xây dựng đơn vị có sự chuyển biến tiến bộ về mọi mặt...”. Đại hội cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm cần tập trung khắc phục trong nhiệm kỳ tới, đó là: Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm và quyền lợi, còn mang nặng tư tưởng trung bình chủ nghĩa; đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu. Đồng thời, Đại hội đề ra phương hướng lãnh đạo nhiệm kỳ 2000-2002.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2000-2002, gồm 9 đồng chí: Lê Tấn Luật, Hồng Nhật Hùng, Trần Đình Thăng, Trần Văn Hiền, Trương Hồng Thái, Phạm Kiến Hòa, Trần Thị Hà, Tô Văn Phòng và Bùi Ngọc Thụ. Đồng chí Lê Tấn Luật - Phó Giám đốc về Chính trị được bầu làm Bí thư, đồng chí Hồng Nhật Hùng - Giám đốc được bầu làm Phó Bí thư.

Năm 2001, trên địa bàn Quân khu, tình hình chính trị ổn định nhưng trong những năm qua thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại nặng nề cho nhiều tỉnh, huyện trong khu vực và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu.

Nhiệm vụ chính trị cơ bản trong năm 2001 của lực lượng vũ trang Quân khu là huấn luyện, nâng cao sức mạnh tổng hợp sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra. Đồng thời, phải làm tốt hơn nữa công tác vận động quần chúng, tham gia xây dựng cơ sở chính trị xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc; tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai lũ lụt...

Đối với Bệnh viện, nhiệm vụ trung tâm vẫn là chuẩn bị chu đáo mọi mặt, bảo đảm quân y tốt nhất cho sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng thu dung, điều trị cho thương binh, bệnh binh và nhân dân; hoàn chỉnh các đề tài khoa học đang nghiên cứu, tổ chức hội thảo và ứng dụng vào thực tế điều trị; kết hợp tốt với Sở Y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang thực hiện tốt Chương trình y tế quốc gia số 12; đẩy mạnh phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, trực tiếp là “Phong trào Quân y 5 tốt”, “Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác Hồ dạy”, từng bước xây dựng Bệnh viện theo mô hình “Bệnh viện văn hóa”...

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Ban Giám đốc Bệnh viện đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp, trong đó yêu cầu các khoa, ban, các chi bộ và các tổ chức quần chúng phát huy tốt tinh thần trách nhiệm trong công tác. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào Thi đua quyết thắng, tổ chức tốt các đợt thi đua đột kích ngắn ngày... Thực hiện chỉ đạo của Ban Giám đóc Bệnh viện, ngay từ đầu năm, hoạt động thi đua đã có những bước tiến đáng kể. Ngày 4 tháng 1 năm 2001, Bệnh viện đã tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện phong trào Thi đua quyết thắng năm 2000 và phát động phong trào thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2001. Sau khi đánh giá kết quả phong trào Thi đua quyết thắng năm 2000, Ban Giám đốc Bệnh viện đã tặng bằng khen cho 7 tập thể, 16 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào Thi đua quyết thắng và đã đề nghị Thủ trưởng Cục Hậu cần tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng” cho Khoa Cán bộ, tặng bằng khen cho Khoa A4; đề nghị công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua” cho 3 đồng chí Trần Đình Thăng - Phó Giám đốc, Trương Hồng Thái - Trưởng ban Y vụ, Phan Hồng Phúc - Chủ nhiệm Khoa A4 và tặng bằng khen cho đồng chí Trịnh Thị Sứ - Chủ nhiệm Khoa Nhân dân. Đồng thời cũng đề ra phương hướng đẩy mạnh phong trào Thi đua quyết thắng trong toàn Bệnh viện năm 2001. Phong trào Thi đua quyết thắng thực sự đã trở thành động lực thúc đẩy các hoạt động của Bệnh viện đạt được kết quả tốt, trong đó có công tác huấn luyện, nghiên cứu khoa học và công tác tuyến.

Đối với công tác huấn luyện, Bệnh viện đã tập trung huấn luyện điều dưỡng cho 48 đồng chí, chọn điều dưỡng viên giỏi chuẩn bị đi thi cấp Quân khu; tổ chức huấn luyện đội phẫu thuật 16 đồng chí tham gia diễn tập cứu nạn, cứu hộ vùng sông nước tại huyện Hồng Ngự, Tân Hồng thuộc tỉnh Đồng Tháp và 6 tổ 18 đồng chí sẵn sàng lên đường giúp dân khắc phục hậu quả lũ lụt, phòng chống dịch sốt xuất huyết. Đồng thời liên hệ với Bệnh viện Quân y 175 gửi 8 đồng chí y, bác sĩ đến học chuyên khoa.

Cùng với công tác huấn luyện, công tác nghiên cứu khoa học luôn được lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện chú trọng và đầu tư. Trong năm, Bệnh viện đã tổ chức nhiều buổi hội thảo, sinh hoạt nghiên cứu khoa học cho các bác sĩ và nhiều đề tài khoa học có giá trị được ứng dụng chữa bệnh hiệu quả. Điển hình là 10 đề tài khoa học được ứng dụng đạt hiệu quả cao, như “Phẫu thuật điều trị bướu giáp nhiễm độc” của bác sĩ Vũ Đăng Trung và bác sĩ Nguyễn Trọng Sinh, “Điều trị bảo tồn tắc ruột sau mổ bằng phương pháp hút liên tục” của bác sĩ Nguyễn Xuân Sách và bác sĩ Đoàn Văn Tiếp, “Điều trị sỏi niệu quản bằng kim tiền thảo được đánh giá qua ECHO” của bác sĩ Phạm Văn Hoàng. Ngoài ra, Ban Giám đốc còn triển khai chuẩn bị 12 đề tài nghiên cứu khoa học tham gia vào Hội nghị khoa học kỹ thuật quân, dân y Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức hai năm một lần. Trong hai năm 2001-2002, một số đề tài có ý nghĩa thực tiễn trong công tác điều trị của Bệnh viện, như phác đồ điều trị lao, điều trị viêm đại tràng mãn tính bằng phương pháp thụt giữ được đồng nghiệp quan tâm.

Thực hiện chỉ đạo của Phòng Quân y Quân khu về kiểm tra công tác quân y tuyến năm 2001, từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 11 tháng 7 năm 2001, Bệnh viện đã cử đoàn cán bộ đi kiểm tra tại quân y Sư đoàn bộ binh 8, quân y Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh và quân y bộ đội biên phòng các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp...

Thông qua công tác kiểm tra, đoàn kiểm tra của Bệnh viện đã chỉ ra những điểm mạnh, yếu của quân y các đơn vị và đề nghị chỉ huy các đơn vị cần quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho quân y hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, nhân rộng mô hình trạm y tế quân, dân y kết hợp, góp phần chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nơi đóng quân. Đối với đơn vị chủ lực đóng quân tập trung nên áp dụng phương thức bố trí quân y đại đội, tiểu đoàn cho phù hợp, tạo điều kiện cho quân y tiểu đoàn làm tốt nhiệm vụ được giao. Sự kết hợp của Bệnh viện và quân y tuyến dưới đã đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bộ đội và nhân dân trong khu vực.

Cùng với việc làm tốt công tác thu dung, điều trị cho thương binh, bệnh binh và các đối tượng chính sách, Bệnh viện đã kết hợp tốt với các trung tâm y tế địa phương thực hiện Chương trình y tế quốc gia số 12, tích cực tham gia khám, chữa bệnh cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng kháng chiến cũ và những vùng bị thiên tai, dịch bệnh, đồng thời mở rộng phạm vi điều trị giúp nhân dân thu một phần viện phí và tham gia thực hiện tốt chủ trương “xóa đói giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” ở địa phương.

Ngày 7 tháng  9 năm 2001, Bệnh viện tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình y tế quốc gia số 12 (quân, dân y kết hợp), “đền ơn đáp nghĩa”, phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa.

Hội nghị thống nhất đánh giá, qua 10 năm (1991-2000), Bệnh viện đã tổ chức khám và cấp thuốc miễn phí cho 18.725 lượt người, với tổng số tiền thuốc lên đến 152.782.000 đồng; thăm viếng và tặng quà mẹ Việt Nam Anh hùng, các đối tượng chính sách trị giá 24.260.000 đồng. Điều trị tại Bệnh viện miễn giảm viện phí 329 lượt bệnh nhân, với số tiền 28.876.000 đồng. Nhận phụng dưỡng đến cuối đời một mẹ Việt Nam Anh hùng ở phường 6, Mỹ Tho, Tiền Giang với mức trợ cấp 200.000 đồng/tháng và tặng một sổ tiết kiệm 1,5 triệu đồng; xây một nhà tình nghĩa tặng mẹ Việt Nam Anh hùng ở xã Bình Phú, Cai Lậy, Tiền Giang, trị giá 18.200.000 đồng và một sổ tiết kiệm 1 triệu đồng... Trong đợt lũ năm 2000, Bệnh viện đã kết hợp với Ban Quân y của Bộ chỉ huy quân sự hai tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và các trung tâm y tế địa phương thành lập 8 tổ quân y gồm 24 bác sĩ, y sĩ, y tá liên tục có mặt ở các xã bị thiệt hại nặng để khám, chữa bệnh cho nhân dân suốt 10 ngày liền, được Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp tặng bằng khen.

Riêng năm 2001, Bệnh viện đã cử 5 tổ quân y và trích quỹ phúc lợi của Bệnh viện hơn 14 triệu đồng mua thuốc, khám và cấp thuốc miễn phí cho đồng bào dân tộc Khơme ở xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; nhân dân vùng kinh tế mới thuộc cù lao xã Phú Tân, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; hai xã được tuyên dương anh hùng: một xã thuộc huyện Bình Đại và một xã thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre; một xã thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Các tổ công tác làm việc tận tâm, tận lực, không kể giờ nghỉ, đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và chính quyền các địa phương. Nhiều đối tượng chính sách tuổi từ 70 đến hơn 80 vẫn cố gắng đến được điểm khám đúng giờ; họ đến không chỉ để khám bệnh nhận thuốc miễn phí mà cái chính là đến để tỏ lòng biết ơn Đảng, Nhà nước, Quân đội và để gặp lại các chú “Bộ đội Cụ Hồ” năm xưa và hôm nay. Ông Nguyễn Văn Bé, 60 tuổi, là Hội phó Hội Cựu chiến binh xã và một số bà con ở xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre tâm sự với tổ công tác của Bệnh viện: “Cứ nghe các bác sĩ Quân đội đến khám bệnh là bà con đi ngay, các chú vừa khám kỹ, vừa có đức độ, dễ gần gũi. Chúng tôi cảm ơn Đảng, cảm ơn lãnh đạo, cảm ơn các bác sĩ ở Bệnh viện Quân y 120”.

Những tình cảm chân thành của bà con cô bác ở Bến Tre là nguồn động viên, cổ vũ to lớn để cán bộ, công nhân viên Bệnh viện tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong những năm tới.

Quán triệt chỉ thị của Bộ Y tế, chỉ đạo của ngành Quân y Quân khu, năm 2002, Ban Giám đốc Bệnh viện xác định không ngừng nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, điều trị cho thương binh, bệnh binh và nhân dân. Đồng thời chỉ đạo các khoa chủ động khắc phục những thiếu sót trong thực hiện 34 chế độ của Bệnh viện, đưa một số kỹ thuật mới vào chẩn đoán, điều trị, như mổ vách ngăn chọc xoang, tiêm ngừa, phẫu thuật theo yêu cầu ngoại chấn thương... Ngoài ra, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng cơ bản các khoa, ban theo kế hoạch xây dựng cơ bản đã đề ra từ năm 2000.

Về tổ chức biên chế Bệnh viện thời gian này không có biến động lớn. Đó là thuận lợi cơ bản giúp Bệnh viện tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ trên giao.

Đối với công tác chuyên môn, nhờ được bổ sung, tăng cường các thiết bị mới như máy đốt điện (dao mổ) ICC, SONA, máy hút phẫu thuật điện, máy X quang cả sóng cao tần 100 mA, máy điện tim 6 bút ECG 9020... nên chất lượng chẩn đoán, phẫu thuật và điều trị được nâng lên rõ rệt với 5.099 ca thu dung điều trị, 2.510 ca phẫu thuật thành công.

Để Bệnh viện tiếp tục phát triển toàn diện và vững chắc, Ban Giám đốc Bệnh viện đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các tiêu chí của Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các đơn vị cơ sở” mà Tổng cục Chính trị đã phát động tháng 5 năm 1992. Thực hiện hướng dẫn của trên, ngày 14 tháng 6 năm 2002, Bệnh viện tiến hành Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các đơn vị cơ sở”. Tại Hội nghị này, đồng chí Lê Tấn Luật - Phó Giám đốc về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Bệnh viện thay mặt Ban Gám đốc đọc báo cáo tổng kết, đánh giá nghiêm túc những ưu, khuyết điểm trong quá trình tổ chức Cuộc vận động của Bệnh viện và khẳng định Cuộc vận động đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện. Đồng thời, góp phần củng cố và phát triển phong trào tập thể quân nhân phấn đấu theo chuẩn mực con người Việt Nam theo tiêu chuẩn “Bộ đội Cụ Hồ”. Đặc biệt là, Cuộc vận động đã làm chuyển biến cơ bản về các mối quan hệ trong Bệnh viện, như quan hệ đồng chí, đồng đội, cấp trên, cấp dưới; quan hệ giữa cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện với nhân dân... Cụ thể là xây dựng được từ cái đẹp trong tâm hồn đến lời nói, từ tư thế tác phong đến cảnh quan, môi trường, đường sá, doanh trại, tạo nên sự thống nhất cũng như vẻ đẹp của một Bệnh viện Quân đội. Hội nghị cũng đề ra phương hướng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong giai đoạn 2002-2005.

Nhằm đánh giá công lao và những thành tích của đội ngũ y, bác sĩ trong những năm qua, căn cứ vào các nghị định của Chính phủ và Thông tư số 05/2002/TT-BYT ngày 30 tháng 5 năm 1998 của Bộ Y tế và hướng dẫn của Phòng Quân y Quân khu, ngày 19 tháng 7 năm 2002, Hội đồng xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú” lần thứ 6 đã họp xét đề nghị tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú” cho 13 bác sĩ thuộc Bệnh viện Quân y 120. Trong 13 đồng chí đề nghị lần này có 3 đồng chí: Hồng Nhật Hùng - Giám đốc Bệnh viện, Nguyễn Trọng Sinh - Chủ nhiệm Khoa B1 và Trương Hồng Thái - Trưởng ban Kế hoạch - Tổng hợp được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”. Đó là vinh dự lớn lao của tập thể y, bác sĩ Bệnh viện Quân y 120; đồng thời là nguồn cổ vũ, động viên cán bộ, công nhân viên Bệnh viện phát huy tốt hơn nữa thành tích đã đạt được, xứng đáng với lòng tin yêu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Cũng trong thời gian này, đồng chí Phan Hồng Phúc - Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm được cử đi học chuyên khoa II, bác sĩ Lê Mạnh Cường thay đồng chí Phúc giữ chức Chủ nhiệm Khoa. Đồng chí Nguyễn Song Chinh - Trợ lý Tuyên huấn Phòng Chính trị được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Chính trị của Bệnh viện thay đồng chí Trần Văn Hiền nghỉ hưu. Đồng chí Vũ Đăng Trung được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Hồi sức cấp cứu thay đồng chí Nguyễn Xuân Sách; đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ thay đồng chí Trần Đăng giữ chức Trưởng ban Tài chính.

Năm 2003, Bệnh viện được đầu tư một số trang bị, kỹ thuật hỗ trợ tích cực cho công tác khám, điều trị bệnh, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng, đa số là người cao tuổi, bệnh mãn tính như tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thương hàn, ngộ độc thuốc trừ sâu, tai nạn giao thông... Để không ngừng nâng cao chất lượng điều trị, Bệnh viện luôn chủ động giáo dục đội ngũ chuyên môn nâng cao “y đức, y thuật”, quan điểm phục vụ và xây dựng ý thức trách nhiệm, tính tự giác chấp hành các chế độ của Bệnh viện. Hàng ngàn ca bệnh đã được Bệnh viện cấp cứu và điều trị thành công. Điển hình như ông Huỳnh Tài Phong, 83 tuổi, quê ở Thạnh Phú, Châu Thành, Tiền Giang, vào viện trong tình trạng suy hô hấp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tăng huyết áp độ 3, thiếu máu cơ tim cục bộ, lão suy, phân áp ôxy giảm 67%, điện tim thiếu máu cơ tim cục bộ, có nguy cơ tử vong. Kíp trực đã nhanh chóng xử lý cấp cứu giãn phế quản, thở ôxy, giãn vành, hạ áp, bệnh nhân đỡ khó thở, phân áp ôxy tăng lên 86%, huyết áp từ 200/120mmHg xuống còn 140/80mmHg; sau đó bệnh nhân tiếp tục được điều trị thuốc kháng sinh, long đàm, bảo vệ tế bào cơ tim, những ngày sau bệnh nhân đỡ mệt, đỡ khó thở, sau 19 ngày điều trị, bệnh nhân ra viện trong tình trạng sức khỏe tốt.

Một trường hợp khác là bệnh nhân Trần Văn Lương ở Sư đoàn bộ binh 330 vào viện với căn bệnh lao thâm nhiễm thùy trên, phổi phải biến chứng khái huyết mức độ nặng, bệnh nhân bị viêm gan B được chuyển từ Bệnh viện Quân y 121 sang trong tình trạng lao thâm nhiễm thùy trên phổi phải giai đoạn lan tràn phá hủy. Cách một ngày sau khi nhập viện, bệnh nhân ho ra máu mức độ nặng khoảng 400mml. Khoa A4 đã tích cực điều trị kịp thời, cầm máu, truyền máu, bất động, kháng sinh. Sau 4 ngày bệnh nhân hết ho ra máu, Khoa tiếp tục điều trị kết hợp lao phổi với viêm gan B mạn cho bệnh nhân. Sau hai tháng điều trị, trọng lượng cơ thể bệnh nhân tăng được 3kg, kết quả thấy trên X quang vùng thâm nhiễm giảm nhiều, bệnh nhân sinh hoạt bình thường.

Cùng với thực hiện công tác chuyên môn, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị những tháng đầu năm 2003 cũng được Bệnh viện quan tâm và chú trọng, nhất là hoạt động thi đua của các tổ chức quần chúng, phong trào thi đua đột kích “Mừng Đảng, mừng Xuân”, “Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Phụ nữ hai giỏi”, “Phong trào Quân y 5 tốt”, “Phong trào thi đua 5 nhất, 3 không”. Đặc biệt là nhân kỷ niệm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30-4,  ngày Quốc tế Lao động 1-5, ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5 năm 2003 và chào mừng Đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ XI, Công đoàn cơ sở phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ cơ sở tổ chức giải bóng đá giữa các khoa, ban trong Bệnh viện; diễn đàn hái hoa dân chủ và tổ chức đoàn cán bộ quân y đi khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, tạo được không khí thi đua sôi nổi trong Bệnh viện.

Ngày 13 tháng 5 năm 2003, Đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ XI nhiệm kỳ 2003-2005 được khai mạc. Dự Đại hội có 92 đảng viên trong Đảng bộ. Đồng chí Lê Tấn Luật - Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc về Chính trị thay mặt Đảng ủy đọc báo cáo chính trị đánh giá kết quả lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 2000-2002 và phương hướng lãnh đạo nhiệm kỳ 2003-2005. Sau hai ngày làm việc tích cực khẩn trương và nghiêm túc, Đại hội Đảng bộ của Bệnh viện đã thành công tốt đẹp. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm các đồng chí: Lê Tấn Luật, Hồng Nhật Hùng, Trần Đình Thăng, Nguyễn Song Chinh, Trương Hồng Thái, Trần Thị Hà, Tô Văn Phòng, Phạm Kiến Hòa và Bùi Ngọc Thụ. Đồng chí Lê Tấn Luật - Phó Giám đốc về Chính trị được bầu làm Bí thư, đồng chí Hồng Nhật Hùng - Giám đốc được bầu làm Phó Bí thư.

Năm 2003, cũng là năm Bệnh viện được Quân khu tập trung đầu tư xây dựng cơ bản các công trình phục vụ cho công tác điều trị, cứu chữa bệnh nhân. Để theo dõi kiểm tra việc thi công các công trình, căn cứ Quyết định số 32/QĐ-QK ngày 19 tháng 3 năm 2003 của Tư lệnh Quân khu về việc thành lập Ban Quản lý dự án xây dựng Bệnh viện Quân y 120, ngày 2 tháng 4 năm 2003, đồng chí Hồng Nhật Hùng - Giám đốc Bệnh viện đã ký Quyết định số 04/QĐ-BV về việc thành lập Ban Giám sát công trình xây dựng Bệnh viện gồm 6 đồng chí, do đồng chí Trần Đình Thăng - Phó Giám đốc làm Trưởng ban, đồng chí Tô Văn Phòng - Chủ nhiệm Hậu cần làm Phó ban. Phương châm của Bệnh viện là làm từng hạng mục, từng công trình, làm đến đâu chắc đến đó, tập trung dứt điểm từng khu vực. Công trình bắt đầu từ tháng 4 năm 2003, Bệnh viện đã tiến hành xây dựng khu điều trị mới gồm Khoa Nội chung, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Ngoại... Khi các công trình này hoàn thành và đưa vào hoạt động sẽ đáp ứng tốt được yêu cầu khám và chữa bệnh của Bệnh viện.

Cuối năm 2003, nhân sự Ban Giám đốc Bệnh viện có thay đổi, đồng chí Phạm Kiến Hòa - Phó Giám đốc được cấp trên giải quyết cho nghỉ hưu, đồng chí Nguyễn Trọng Sinh - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung được bổ nhiệm chức Phó Giám đốc; đồng chí Nguyễn Xuân Sách được bổ nhiệm thay đồng chí Sinh giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung.

Năm 2004, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Năm 2004, cũng là năm có nhiều ngày kỷ niệm trọng đại: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954 - 7.5.2004), 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 - 22.12.2004), 15 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân (22.12.1989 - 22.12.2004)

Thực hiện kế hoạch của Cục Chính trị Quân khu và hướng dẫn của Phòng Chính trị Cục Hậu cần, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã tổ chức quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đồng thời tập trung giáo dục nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho cán bộ, công nhân viên, năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ đảng viên; phát huy bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Theo đó, các hoạt động tuyên truyền thi đua được đẩy mạnh trong toàn Bệnh viện, nhất là Đoàn Thanh niên hưởng ứng cuộc thi “Âm vang Điện Biên” do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Trung ương Hội Cựu chiến binh phối hợp thực hiện và cuộc thi tìm hiểu 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam với chủ đề “Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” do Bộ Quốc phòng phát động, đã được đoàn viên, thanh niên và cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện tham gia sôi nổi. Các phong trào thi đua đã có tác dụng thúc đẩy mọi hoạt động của Bệnh viện tiến lên một bước mới, trong đó có công tác chuyên môn.

Đối với Khoa Tâm thần kinh, là một trong hai khoa tuyến cuối của Quân khu. So với các khoa khác trong Bệnh viện, thì Khoa Tâm thần kinh có nhiều khó khăn hơn, nhất là về nơi làm việc của cán bộ, công nhân viên và các phòng bệnh nhân. Để thực hiện nhiệm vụ, Ban Giám đốc Bệnh viện đã quyết định cải tạo, sửa chữa nhà tang lễ thành nơi tiếp đón và điều trị cho bệnh nhân trong và ngoài quân đội, với đặc thù riêng từ việc tiếp xúc, khám chữa bệnh, quản lý cũng rất khác các khoa trong Bệnh viện.

Đặc điểm lớn nhất của loại bệnh này là khi nhập viện bị tổn thương thần kinh nặng, hạn chế và không còn trí nhớ, lúc tỉnh táo, lúc hoang tưởng, không kiểm soát được hành vi của mình. Có những bệnh nhân nặng không làm chủ được mình, hành động theo bản năng. Nhiều bệnh nhân khi nhập viện gặp bác sĩ là chửi bới, la hét; khi khám và chích thuốc thì rượt đuổi, tấn công y, bác sĩ...

Việc quản lý đối tượng này đã khó, việc chăm sóc, điều trị lại khó khăn phức tạp bội phần. Vượt qua khó khăn không chỉ bằng trách nhiệm mà bằng cả tấm lòng, lương y của người thầy thuốc quân y với đồng chí, đồng đội, các y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ của Khoa đã đoàn kết, có sự phân công phân nhiệm hợp lý, ngày đêm bám sát bệnh nhân. Nuôi dưỡng, chữa trị bệnh nhân không chỉ là các toa thuốc trong phác đồ điều trị đối tượng bệnh nhân này mà còn có cả giải pháp tâm lý tình cảm.

Vì vậy, ngoài việc giáo dục, động viên ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong công việc và tình thương đối với bệnh nhân, Bệnh viện còn có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng điều trị, trong đó chú trọng khâu khám chữa bệnh phải thật kỹ, chẩn đoán đúng bệnh, hạn chế việc nóng vội trong quá trình điều trị, vì điều trị bệnh nhân tâm thần cái khó nhất là làm thế nào để bệnh nhân khi khỏi bệnh không cảm thấy mặc cảm và hòa nhập với cộng đồng. Như trường hợp bệnh nhân Nguyễn Thị Mai Trinh, 25 tuổi, quê ở Cầu Ngang, Trà Vinh, bị loạn thần cảm xúc, lúc phát bệnh không ai tiếp xúc được, tấn công người nhà. Nhập viện trong tình trạng nói nhảm, đánh người thân, cảm xúc khí sắc hưng phấn, chửi mắng bác sĩ... Các y, bác sĩ trong khoa đã phải thực hành sốc điện giúp bệnh nhân giảm bớt cơn kích động, xóa đi ý định hoang tưởng, các ảo giác âm thanh mệnh lệnh. Qua hai tuần điều trị, bệnh nhân đã tỉnh táo, tiếp xúc tốt, thần kinh ổn định, ăn ngủ sinh hoạt bình thường và ra viện. Hay trường hợp bệnh nhân Nguyễn Thọ Bảo ở Sư đoàn bộ binh 8 mắc bệnh từ năm 2003, vào viện trong tình trạng rối loạn tâm thần, kích động, nói nhiều hay đi lang thang. Sau gần hai tháng điều trị bệnh nhân đã tỉnh táo và ra viện.

Bằng sự phấn đấu kiên trì, bền bỉ, cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ của Khoa Tâm thần kinh đã vượt qua nhiều khó khăn phức tạp, xây dựng Khoa luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ nhiều năm liền.

Tháng 8 năm 2004, các công trình xây dựng trong Bệnh viện cơ bản đã hoàn thành, các Khoa Nội chung, Y học dân tộc, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Dược chuyển về vị trí mới, khang trang, sạch đẹp; cùng với việc Bệnh viện được cấp thêm một số thiết bị mới, như máy điện não đồ EEG 9200, máy siêu âm Doppler màu, máy X quang cao tần 500 HF... đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám, chữa bệnh của Bệnh viện trong các năm tiếp theo.

Tháng 9 năm 2004, Ban Y tá điều dưỡng được thành lập theo biên chế của Bộ Tổng Tham mưu, do đồng chí Huỳnh Sơn Khương làm Trưởng ban.

Bước vào năm 2005, một năm có nhiều ngày lễ, ngày kỷ niệm quan trọng của đất nước: 75 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc; 60 năm ngày thành lập lực lượng vũ trang Quân khu 9 và cũng là năm tổ chức đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Tình hình an ninh chính trị trên cả nước và trong địa bàn Quân khu cơ bản ổn định, kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển.

Về nhiệm vụ của Bệnh viện không thay đổi nhưng có thuận lợi hơn là hầu hết các công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đồng thời, Bệnh viện được Cục Quân y đầu tư thêm một số máy móc, trang thiết bị kỹ thuật mới, như máy X quang tăng sáng, máy nội soi tiêu hóa ống mềm có camera, máy phẫu thuật nội soi...

Về tổ chức biên chế Bệnh viện có sự điều chỉnh, tái lập Khoa Y học cổ truyền trên cơ sở tách ra từ Khoa Nội chung và bố trí lại nhân sự một số khoa, ban. Bác sĩ Lê Duy Thụ - Chủ nhiệm Khoa Nội chung được điều sang giữ chức Chủ nhiệm Khoa Y học Cổ truyền, bác sĩ Phan Hồng Phúc sau khi tốt nghiệp chuyên khoa II về giữ chức Chủ nhiệm Khoa Nội chung. Bác sĩ Nguyễn Xuân Sách - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung chuyển qua giữ chức Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật - Hồi sức cấp cứu, bác sĩ Vũ Đăng Trung thay bác sĩ Sách giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung; đồng chí Phạm Thị Sum - bác sĩ điều trị Khoa Khám bệnh giữ chức Chủ nhiệm Khoa, thay bác sĩ Huỳnh Xuân Hoa nghỉ hưu. Đồng chí Hoàng Bá Hanh - Trợ lý thanh niên Bệnh viện Quân y 121 được điều động, bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Chính trị, thay đồng chí Nguyễn Song Chinh về nhận công tác tại Cục Hậu cần Quân khu. Cũng trong năm 2005, đồng chí Trương Hồng Thái - Trưởng ban Kế hoạch - Tổng hợp được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc phụ trách Kế hoạch - Tổng hợp. Sau những thay đổi về tổ chức, biên chế, Bệnh viện đi vào ổn định và từng bước thực hiện nhiệm vụ có chất lượng và hiệu quả hơn. Thời gian này, bác sĩ Lê Duy Thụ - Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền, bác sĩ Võ Ngọc Nuôi - Chủ nhiệm Khoa Cán bộ và bác sĩ Bùi Ngọc Thụ - Chủ nhiệm Khoa Chuyên khoa được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”.

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 187/NQ-ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Nghị quyết 27/NQ-ĐU của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về công tác đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ mới, Đảng ủy Bệnh viện đã có nghị quyết chuyên đề về thanh niên. Cơ quan chính trị xây dựng kế hoạch nội dung, phương pháp hoạt động thanh niên mang lại hiệu quả thiết thực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tập hợp và giáo dục thanh niên.

Cũng trong thời gian này, theo chỉ đạo của Cục Chính trị Quân khu và Phòng Chính trị Cục Hậu cần Quân khu, Bệnh viện đã tiến hành tổng kết 5 năm hoạt động của đoàn và phong trào thanh niên từ năm 2001 đến 2005, đồng thời tổ chức thi tìm hiểu “60 năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “60 năm sáng mãi truyền thống anh hùng” của lực lượng vũ trang Quân khu và tập trung tuyên truyền, giáo dục truyền thống nhân các ngày lễ lớn, tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao với tổ chức đoàn các cơ quan, đơn vị trên địa bàn. Đặc biệt là tham gia tọa đàm về hai cuốn nhật ký của hai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm với chủ đề “Tiếp lửa truyền thống - Mãi mãi tuổi 20”, đã thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên trong Bệnh viện tham gia. Các hoạt động đó đã tạo sân chơi bổ ích và không khí vui tươi, lành mạnh, thúc đẩy phong trào thi đua học tập, công tác, rèn luyện và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tuổi trẻ Bệnh viện trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Về công tác xây dựng Đảng, ngày 22 tháng 7 năm 2005 Đảng bộ Bệnh viện tiến hành Đại hội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2005 - 2008. Đánh giá công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 2003 - 2005, báo cáo chính trị của Đại hội nêu rõ: “... Trong những năm qua Đảng bộ Bệnh viện đã đoàn kết, nâng cao được chất lượng thu dung, cấp cứu, điều trị, phục vụ bệnh nhân. Duy trì tốt công tác huấn luyện, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, gửi đi đào tạo ở Học viện Quân y và Bệnh viện Quân y 175 để nâng cao kiến thức y học... Lãnh đạo xây dựng đơn vị có nhiều chuyển biến tiến bộ, quản lý chặt chẽ, thu chi hợp lý quỹ phúc lợi; đời sống cán bộ, công nhân viên không ngừng được cải thiện; làm tốt công tác “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”...”.

Đồng thời, Đại hội cũng nghiêm túc kiểm điểm những thiếu sót, khuyết điểm, đề ra phương hướng lãnh đạo của Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới và bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2008, gồm 9 đồng chí: Lê Tấn Luật, Hồng Nhật Hùng, Hoàng Bá Hanh, Trần Đình Thăng, Trương Hồng Thái, Nguyễn Trọng Sinh, Tô Văn Phòng, Trần Thị Hà và Lê Duy Thụ. Đồng chí Lê Tấn Luật được bầu làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hồng Nhật Hùng được bầu làm Phó Bí thư.

Thành công của Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2008 đã tạo động lực thúc đẩy cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện thi đua, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2005 và tạo đà phát triển cho năm 2006.

Năm 2006, là năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết đại hội Đảng các cấp trong lực lượng vũ trang Quân khu và toàn quân thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong thời gian này, đồng chí Lê Ngọc Thọ được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Chính trị, thay đồng chí Hoàng Bá Hanh chuyển công tác về Phòng Chính trị Cục Hậu cần.

Đối với Bệnh viện, tổ chức biên chế ổn định, nhiệm vụ chính trị trung tâm vẫn như các năm trước. Tuy nhiên, quân số làm việc giảm nhiều do đi học, đi tập huấn, đi công tác nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

Về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, ngay từ đầu năm, trên cơ sở hướng dẫn của Phòng Chính trị Cục Hậu cần Quân khu, Bệnh viện đã có kế hoạch và ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2006, trong đó tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, đẩy mạnh hoạt động thi đua, xây dựng các tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Tháng 3 năm 2006, sau khi có Nghị quyết số 37/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu 9 lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị[14], Bệnh viện đã tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong Bệnh viện quán triệt các nghị quyết trên, trong đó yêu cầu các cấp ủy, chi bộ cần tập trung lãnh đạo, thực hiện nghiêm túc chủ trương của Bộ Chính trị, của Đảng ủy Quân khu, tránh những biểu hiện lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên. Tháng 5 năm 2006, đồng chí Lê Tấn Luật - Phó Giám đốc về Chính trị được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Bệnh viện.

Về công tác chuyên môn, được cấp trên tiếp tục quan tâm đầu tư cho Bệnh viện các trang thiết bị hiện đại, như máy thở chức năng cao, máy theo dõi bệnh nhân, máy sinh hóa bán tự động, máy phẫu thuật nội soi... Và đội ngũ bác sĩ được đào tạo sau đại học ngày càng đông, có tay nghề vững đã giúp Bệnh viện cấp cứu, phẫu thuật, điều trị thành công nhiều ca khó. Đặc biệt, từ tháng 3 năm 2006, Bệnh viện đã triển khai phẫu thuật nội soi thành công các ca viêm ruột thừa cấp, sỏi túi mật, u xơ tiền liệt tuyến, u nang buồng trứng. Điển hình là ngày 11 tháng 3 năm 2006, Khoa Ngoại đã tiến hành phẫu thuật nội soi cắt bỏ túi mật miễn phí cho ông Bùi Văn Khéo, 55 tuổi, ở Mỹ Thạnh và chị Nguyễn Thị Thu Hồng, 25 tuổi ở xã An Phú Tây đều thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Mặc dù, đây là lần đầu tiên Bệnh viện thực hiện phẫu thuật nội soi, nhưng với đội ngũ y, bác sĩ giàu kinh nghiệm, có tay nghề vững và có công tác chuẩn bị chu đáo nên hai ca phẫu thuật đã thành công, một ngày sau mổ hai bệnh nhân đã đi lại quanh phòng được.

Một trường hợp khác, vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 24 tháng 5 năm 2006, Khoa Cấp cứu tiếp nhận một bệnh nhân bị cây đâm thấu bụng, tổn thương gan, nạn nhân được chuyển tới Bệnh viện trong tình trạng tỉnh, mạch nhanh, huyết áp tăng, rối loạn nhịp tim, bụng chướng (tiền sử bệnh nhân tăng huyết áp và rối loạn nhịp tim). Nạn nhân là ông Nguyễn Văn Nghĩa, 76 tuổi, quê ở ấp Phú Thịnh, xã Phú Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, đi xe đạp bị té xuống mé đường và bị cây so đũa cụt đâm vào bụng. Kíp mổ gồm các bác sĩ Nguyễn Trọng Sinh, Nguyễn Hồng Phong và tổ gây mê đã tiến hành phẫu thuật cấp cứu lấy ra một đoạn cây dài 20cm (một đầu 2,5cm, một đầu 4cm), cây đâm sâu vào gan tạo thành vết thương gan 6x3x3cm. Sau Phẫu thuật, tình trạng bệnh nhân tiến triển tốt. Đây là ca phẫu thuật vết thương thấu bụng có tổn thương gan trên bệnh nhân tăng huyết áp và rối loạn nhịp tim đầu tiên trong 15 năm qua ở Bệnh viện.

Năm 2006, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào khám, chữa bệnh cũng được triển khai thực hiện có hiệu quả, như điều trị trĩ theo phương pháp phẫu thuật khâu treo (phẫu thuật Longo cải biên). Đây là phương pháp phẫu thuật dựa theo nguyên lý của phẫu thuật Longo[15], các bác sĩ của Bệnh viện đã tiến hành khâu treo triệt mạch, treo búi trĩ và viêm mạc sa. Trong vòng 6 tuần đến 3 tháng các búi trĩ sẽ teo lại và khỏi bệnh. Chi phí cho phẫu thuật khâu treo rất rẻ, chỉ khoảng 100.000 đồng mua chỉ khâu, so với 6 triệu đồng một máy nối Stayler theo phương pháp phẫu thuật Longo. Phương pháp này được phát huy rất tốt về sau này.

Cùng với hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, thời gian này, công tác hậu cần - kỹ thuật - tài chính, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho thương binh, bệnh binh và cán bộ, công nhân viên cũng được Ban Giám đốc Bệnh viện coi trọng và không ngừng phát triển. Về xây dựng cơ bản, đến cuối năm 2006, các hạng mục công trình tiếp theo như Khoa A4, A10, Khoa Khám bệnh, nhà giặt, cổng chính đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đồng thời, Bệnh viện đã chi gần 60 triệu đồng để quy hoạch trồng cây xanh, cây cảnh, cải tạo môi trường, xây dựng Bệnh viện theo mô hình “Bệnh viện văn hóa, chính quy, xanh, sạch, đẹp”.

Ngày 5 tháng 12 năm 2006, cơn bão số 9 đổ bộ vào các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại nặng nề cho một số huyện của tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long… Sau khi nhận được lệnh của Thủ trưởng Cục Hậu cần Quân khu, Đội phẫu cứu chữa cơ bản của Bệnh viện gồm 16 đồng chí, có một xe Hồng thập tự, một xe tải và hai tổ quân y cơ động, mang theo đầy đủ dụng cụ, thuốc men đã lên đường đến huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia giúp dân khắc phục hậu quả cơn bão số 9. Khi đến nơi, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng các y, bác sĩ, y tá, phục vụ của Bệnh viện đã nhanh chóng hỗ trợ cho lực lượng y tế các địa phương tổ chức cứu chữa người bị thương, bị bệnh từ các nơi chuyển về. Đồng thời, chia lực lượng thành các tổ cơ động xuống các xã khám, cấp thuốc cho nhân dân và cùng với đồng bào thu dọn nhà cửa bị hư hại, xử lý vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh...

Tổng cộng trong đợt hoạt động giúp dân khắc phục hậu quả cơn bão số 9 ở hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, Bệnh viện đã cứu chữa, khám bệnh cho 2.138 lượt người, cấp 26 cơ số thuốc do Quân khu cấp và Bệnh viện tự mua bằng quỹ vốn đơn vị trị giá hơn 20 triệu đồng. Đồng thời giúp nhân dân sửa chữa 93 căn nhà, trong đó có hai gia đình chính sách. Việc làm của Bệnh viện đã được nhân dân các địa phương khen ngợi, được Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tặng 3 giấy khen cho một tập thể; hai cá nhân và được Bộ Tư lệnh Quân khu khen thưởng. Đặc biệt, Bệnh viện đã được Bộ trưởng - Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng, chống bão lụt Trung ương Cao Đức Phát tặng bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống bão, lụt.

III. TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ, XÂY DỰNG BỆNH VIỆN NGANG TẦM NHIỆM VỤ TRONG THỜI KỲ MỚI (2007-2017)

Bước vào năm 2007, tình hình trong nước và địa bàn Quân khu tiếp tục ổn định, đời sống nhân dân và lực lượng vũ trang ngày càng được nâng lên. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X sau một năm được triển khai thực hiện sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đã củng cố thêm niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo ra thế và lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Năm 2007, là năm cử tri cả nước tham gia bầu cử Quốc hội khóa XII, năm bắt đầu triển khai thực hiện Chỉ thị số 07/CT-ĐUQSTW ngày 11 tháng 1 năm 2007 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cũng là năm kỷ niệm 60 năm ngày thương binh, liệt sĩ (27.7.1947 - 27.7.2007). Cùng với cả nước, quân dân Đồng bằng sông Cửu Long dấy lên nhiều phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng đi vào hiện thực cuộc sống.

Đối với cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện, năm 2007 có một ý nghĩa hết sức sâu sắc, đó là năm đánh dấu 30 năm xây dựng, trưởng thành của Bệnh viện (30.4.1977 - 30.4.2007) và tiến tới Đại hội Thi đua quyết thắng Cục Hậu cần giai đoạn 2004-2007.

Nhiệm vụ của Bệnh viện trong năm 2007 là bảo đảm lực lượng, trang bị phục vụ sẵn sàng chiến đấu, tổ chức thực hiện tốt, đồng bộ các hoạt động, nâng cao chất lượng thu dung, điều trị, chăm sóc và phục vụ người bệnh, thực hiện đúng 12 điều y đức, làm tốt chương trình kết hợp quân, dân y, góp phần chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai lũ lụt… Tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trên giao.

Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, Bệnh viện đã đề ra 5 biện pháp chính, trong đó đầu tư trang bị thêm một số máy mới, như nội soi tai - mũi - họng, CT-Scanner, tủ đựng máu, dụng cụ phục hồi chức năng. Đồng thời, cử thêm cán bộ đi học về phẫu thuật nội soi tiêu hóa, tiết niệu, nội soi chẩn đoán và điều trị về nội khoa… nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Ngày 10 tháng 1 năm 2007, để tiếp tục tạo khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 2007 của Đảng ủy Bệnh viện, lập thành tích xuất sắc chào mừng các ngày lễ lớn trong năm, đặc biệt chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống Bệnh viện (30.4.1977 - 30.4.2007), tiến tới Đại hội Thi đua quyết thắng Cục Hậu cần (2004 - 2007), Hội đồng Thi đua, khen thưởng Bệnh viện đã phát động phong trào Thi đua quyết thắng trong toàn Bệnh viện. Phong trào đã được toàn thể cán bộ, y, bác sĩ tích cực hưởng ứng, ra sức thi đua lập thành tích xuất sắc chào mừng các ngày lễ lớn. Trong nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ thu dung, khám bệnh, điều trị, chăm sóc phục vụ người bệnh; củng cố và phát triển một số kỹ thuật chuyên ngành, phù hợp với điều kiện khả năng của Bệnh viện, bảo đảm an toàn, hiệu quả. Đồng thời, duy trì thực hiện nghiêm 6 quản lý và 44 chế độ chuyên môn (trọng tâm là 10 chế độ ưu tiên), công tác kiểm tra được tăng cường. Điều chỉnh nhân lực hợp lý, phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết khắc phục khó khăn, tích cực học tập để nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh. Quán triệt và thực hiện tốt 12 điều y đức, không gây phiền hà cho người bệnh.

Thực hiện Chỉ thị số 246-CT/ĐU ngày 28 tháng 1 năm 2007 của Thường vụ Đảng ủy Quân khu và Hướng dẫn số 78/HD-CCT ngày 29 tháng 1 năm 2007 của Cục Chính trị về tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Bệnh Viện xây dựng Kế hoạch số 42/KH-BGĐ, hướng dẫn, triển khai thực hiện Cuộc vận động. Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xác định đây là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa hết sức quan trọng của toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, lao động quốc phòng trong toàn Bệnh viện, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn Bệnh viện; nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống; ngăn chặn và hạn chế đến mức thấp nhất vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước, quy định của Bệnh viện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Đảng ủy quyết định thành lập Ban chỉ đạo ở cấp Bệnh viện do đồng chí Bí thư Đảng ủy Lê Tấn Luật làm Trưởng ban. Đảng ủy đã phân công trách nhiệm cho từng thành viên để chỉ đạo Cuộc vận động, xây dựng quy chế làm việc, chương trình hoạt động cụ thể từng năm cho đến năm 2011.

 Ngày 2 tháng 2 năm 2007, Đảng ủy Bệnh viện phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tổ chức học tập các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung học tập gồm chuyên đề “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” và nghiên cứu tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và “Di chúc” của Bác. Trên cơ sở Đảng ủy phát động, các chi bộ có chương trình hành động gắn với nhiệm vụ của từng khoa, ban để lãnh đạo cuộc vận động ngày càng có hiệu quả, chất lượng.

Ngày 28 tháng 4 năm 2007, Bệnh viện long trọng tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống (30.4.1977 - 30.4.2007). Tới dự lễ kỷ niệm có Thiếu tướng Trần Phi Hổ - Phó Tư lệnh Quân khu. Thay mặt Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu đồng chí trao tặng Bệnh viện bức trướng mang dòng chữ “Nêu cao y đức, tự lực sáng tạo, đoàn kết quân dân, kiên cường quyết thắng”. Phát biểu tại buổi lễ, Thiếu tướng Trần Phi Hổ khẳng định: “Trong suốt quá trình lịch sử 30 năm ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với ý chí tự lực tự cường, tập thể Đảng ủy - Ban Giám đốc và cán bộ, công nhân viên Bệnh viện Quân y 120 đã đoàn kết, gắn bó, vượt qua mọi khó khăn, thử thách hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; xây dựng Bệnh viện trở thành địa chỉ khám, chữa bệnh đáng tin cậy của quân và dân trên địa bàn…”.

Tháng 5 năm 2007, thực hiện Hướng dẫn số 150/HD-CT ngày 13 tháng 3 năm 2007 của Phòng Chính trị, Cục Hậu cần về sơ kết 5 năm thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội”, Bệnh viện tiến hành Hội nghị sơ kết đánh giá 5 năm (2002-2007) thực hiện Cuộc vận động này gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Qua 5 năm thực hiện cuộc vận động, cấp ủy các khoa, ban cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện đã nỗ lực phấn đấu xây dựng củng cố, từng bước đưa đơn vị đi vào nền nếp và đã đạt được các chỉ tiêu, mục tiêu đề ra. Bệnh viện có môi trường văn hóa, cảnh quan, môi trường xanh, sạch, đẹp; đặc biệt sau giai đoạn xây dựng cơ bản, Bệnh viện đã có điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, nơi ăn, ở cho cán bộ, công nhân viên, đời sống ngày càng được cải thiện; nhà trực ban, nhà giữ xe, sân chào cờ, đường nội bộ được xây dựng, trồng mới 560 cây xanh, các khoa được xây dựng kiên cố, khang trang.

Trong 5 năm qua, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” được Bệnh viện hết sức quân tâm. Bệnh viện đã tổ chức đoàn y, bác sĩ, với 540 lượt đồng chí về các vùng sâu, vùng kháng chiến cũ thăm hỏi, tặng quà, khám, cấp thuốc miễn phí 75 lần cho 15.809 lượt người với trị giá tiền thuốc là 238.826.648 đồng. Ngoài ra, đơn vị còn xuất quỹ phúc lợi và trích ngày lương của cán bộ, công nhân viên cùng địa phương xây tặng 3 căn nhà tình thương, tình nghĩa cho gia đình chính sách.

Năm 2007, Bệnh viện được cấp trên trang bị một số máy móc kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh như: máy theo dõi bệnh nhân, máy X quang tăng sáng, máy rửa phim tự động, máy thở cơ động, máy siêu âm màu, máy nội soi tiêu hóa, máy phẫu thuật nội soi... với tổng trị giá 7.811.850.000 đồng. Đơn vị tự mua sắm bằng tiền ngân sách trên cấp 276.300.000 đồng, ngoài ra đơn vị đầu tư bằng nguồn thu dịch vụ để trang bị thêm một số máy móc khác trị giá 79.220.000 đồng. Công tác sửa chữa trang, thiết bị y cụ được trên đầu tư hơn hai năm qua là 45.680.000 đồng, đơn vị đầu tư bằng nguồn thu từ dịch vụ 39.715.000 đồng, qua đó phần nào đã khắc phục được khó khăn đáp ứng kịp thời cho chẩn đoán, điều trị bệnh.

Từ những đầu tư trên, trong năm kết quả khám, thu dung, điều trị có nhiều tiến bộ: đã khám bệnh cho 37.933 trường hợp tăng 2.030 trường hợp so với năm 2006, thu dung, điều trị cho 5.495 trường hợp tăng 284 trường hợp so với năm 2006.

Về công tác xây dựng Đảng, năm 2007 Đảng bộ Bệnh viện đạt trong sạch vững mạnh; kết nạp đảng viên mới 14 đồng chí, chuyển đảng chính thức 4 đồng chí.

Tháng 7 năm 2007, Ban Giám đốc Bệnh viện có sự thay đổi về nhân sự, đồng chí Lê Tấn Luật - Chính ủy Bệnh viện được điều động về Phòng Chính trị, Cục Hậu cần giữ chức Chủ nhiệm Chính trị thay đồng chí Đặng Hữu Sự có quyết định bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Bệnh viện.

Đầu năm 2008, xuất phát từ thực tiễn nhiều trường hợp bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu do mất máu, trong khi đó Bệnh viện lại chưa có nguồn máu dự trữ. Với tinh thần “tất cả vì người bệnh”, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã phát động một phong trào đặc biệt ý nghĩa, đó là phong trào “Giọt máu nghĩa tình”. Bệnh viện đã chỉ đạo Khoa Phẫu thuật - Hồi sức cấp cứu làm điểm. Phong trào đã thể hiện hành động cao đẹp, nghĩa tình, nhân đạo của cán bộ, nhân viên của Khoa nói riêng và toàn Bệnh viện nói chung, được toàn thể Bệnh viện ra sức hưởng ứng và ngày càng lan tỏa. Phong trào không chỉ kịp thời cứu sống cho những bệnh nhân cần tiếp máu, mà còn giáo dục cho thế hệ trẻ Bệnh viện tinh thần “tương thân tương ái”, hết lòng vì người bệnh. Có thể nói, ngay từ khi ra đời phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu sẵn sàng hiến máu cứu người. Tiêu biểu như Trung tá Hồ Văn Bảy - Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật - Hồi sức cấp cứu, tính đến năm 2014, anh đã 5 lần trực tiếp hiến máu với hơn 10 đơn vị máu. Ngoài ra, câu chuyện của Trung tá Lê Ngọc Thọ - Chủ nhiệm Chính trị Bệnh viện cũng để lại nhiều cảm xúc, đó là: vào một ngày cuối tuần tháng 3 năm 2012, khi đang nghỉ tranh thủ tại Bến Tre, nghe tin có bệnh nhân cần truyền máu cấp cứu. Không đắn đo suy nghĩ, ngay lập tức, anh đã chạy xe máy hơn 40km kịp thời hiến 2 đơn vị máu, cứu sống bệnh nhân Trần Thị Gặp (quê Bến Tre). Được biết, bệnh nhân Gặp bị bướu giáp đa nhân khổng lồ, khi mổ bị mất nhiều máu nên rất nguy kịch đến tính mạng. Qua hội chẩn, chị Gặp thuộc nhóm máu B, trùng với nhóm máu của trung tá Lê Ngọc Thọ. Chưa đầy 10 phút từ lúc lấy máu và truyền máu, ca mổ đã thành công, chị Gặp qua khỏi cơn “thập tử nhất sinh”.

Với tinh thần “tất cả vì người bệnh”, cán bộ, y, bác sĩ của Bệnh viện luôn đến với người bệnh bằng tình thương, trách nhiệm. Những việc làm tốt, nghĩa cử cao đẹp ấy dù nhỏ, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc củng cố thêm niềm tin yêu của nhân dân vào cán bộ, chiến sĩ, y, bác sĩ của Bệnh viện.

Năm 2008, Bệnh viện tiếp tục được cấp trên đầu tư mới một số trang bị kỹ thuật chẩn đoán chức năng cao như: Máy CT-Scanner, máy huyết học, máy siêu âm điều trị, máy thở chức năng cao, máy thở xách tay, máy sinh hóa tự động… Vì vậy, chất lượng công tác khám bệnh, thu dung, điều trị cho bộ đội, các đối tượng chính sách và nhân dân trong khu vực được nâng lên. Lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng 114% đến 137% so với năm 2007; phẫu thuật nội soi thành công cho 114 ca (chủ yếu là viêm ruột thừa, sỏi túi mật, u nang buồng trứng). Cấp cứu, điều trị tốt nhiều trường hợp bệnh nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp kịch phát, nhịp tim nhanh kịch phát trên thất, đột quỵ, hôn mê do tăng đường huyết, xuất huyết tiêu hóa nặng, hen phế quản nặng, sốt xuất huyết chuyển độ… các trường hợp bệnh nội khoa khác, tâm thần, lao đều được tổ chức cấp cứu, điều trị có hiệu quả.

Để nâng cao trình độ tay nghề khám, chữa bệnh, Bệnh viện đã tổ chức 10 buổi sinh hoạt khoa học, thống nhất 4 phác đồ cấp cứu điều trị nội khoa. Cử hai bác sĩ đi học chuyên khoa II nội chung, một bác sĩ y học cổ truyền… Tiếp nhận và hướng dẫn thực hành cho 265 học viên trung, sơ cấp y- dược Trường Trung cấp nghề số 9 đến thực tập tại Bệnh viện. Tổ chức liên thông đào tạo 155 học viên y tá. Đặc biệt, trong năm 2008, Bệnh viện hoàn thành 7 đề tài nghiên cứu khoa học, trong Hội nghị khoa học Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 7 được đánh giá cao, tạo điều kiện cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tế chuyên môn.

Bên cạnh nhiệm vụ chính trị trung tâm là khám chữa bệnh cho bộ đội, các đối tượng chính sách và nhân dân trên địa bàn, Bệnh viện còn chú trọng đến công tác vận động quần chúng. Trong năm, Bệnh viện đã tổ chức 10 lần với 138 lượt cán bộ, nhân viên y - dược khám bệnh giúp dân 1.735 lượt người, điện tin, siêu âm và cấp thuốc trị giá 57.050.000 đồng. Ngoài ra, còn tổ chức hai lần tham gia cùng các đoàn y, bác sĩ  từ Thành phố Hồ Chí Minh đến khám, cấp thuốc cho 1.713 lượt người thuộc các đối tượng trên địa bàn khu vực.

Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị luôn được Bệnh viện quan tâm và chú trọng, nhất là về công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Bệnh viện tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết chuyên đề của Hội nghị Trung ương lần thứ 5, lần 6, lần 7 (khóa X), các chuyên đề pháp luật, quán triệt học tập các chuyên đề cho sĩ quan năm 2008. Triển khai tổ chức thực hiện và học tập 2 chuyên đề của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quân số tham gia đạt 98,7%. Thông qua học tập, giáo dục chính trị đã góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Bệnh viện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị, tiếp tục củng cố niềm tin, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Về công tác xây dựng Đảng, đầu quý III năm 2008, Bệnh viện tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2008-2010. Sau khi đánh giá kiểm điểm công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2008 và đề ra phương hướng lãnh đạo nhiệm kỳ 2008-2010, Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí: Đặng Hữu Sự, Trần Đình Thăng, Trương Hồng Thái, Lê Ngọc Thọ, Nguyễn Trọng Sinh, Phan Hồng Phúc, Lê Duy Thụ, Nguyễn Xuân Sách và Tô Văn Phòng. Đồng chí Đặng Hữu Sự - Chính ủy Bệnh viện được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Đình Thăng - Giám đốc Bệnh viện làm Phó Bí thư.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo trong Đảng bộ, Đảng ủy Bệnh viện luôn coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Năm 2008, Đảng bộ thực hiện tách chi bộ khối Ngoại 1 thành 2 chi bộ: Chi bộ Hồi sức - Cấp cứu và Chi bộ Chẩn đoán chức năng. Đến thời điểm này, toàn Đảng bộ Bệnh viện có 8 chi bộ trực thuộc đều có cấp ủy với cơ cấu hợp lý. Công tác phát triển đảng trong toàn Đảng bộ cũng được quan tâm đúng mức. Năm 2008, toàn Đảng bộ phát triển được 11 đảng viên mới, vượt kế hoạch đề ra 20%, chuyển đảng chính thức cho 13 đồng chí.

Trong thời gian này, bên cạnh các mặt hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần được Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện hết sức coi trọng. Hệ thống điện, nước bảo đảm phục vụ đủ cho các hoạt động của Bệnh viện. Triển khai thi công và đưa vào sử dụng phòng máy CT-Scanner, hệ thống chống sét, phòng xét nghiệm, phòng vệ sinh… trị giá 542.815.000 đồng. Đồng thời tiếp tục đầu tư trồng mới cây xanh và cây cảnh ở một số khu vực trong các khoa, ban, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp trong khuôn viên Bệnh viện.

Ngày 3 tháng 6 năm 2008, Bệnh viện tiến hành sơ kết một năm rưỡi thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Qua hơn một năm triển khai, thực hiện Cuộc vận động, từng cán bộ, công nhân viên đã nhận thức sâu sắc về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện triển khai các bước thực hiện Cuộc vận động thống nhất và chặt chẽ, nghiêm túc, có hiệu quả thiết thực, sát với nhiệm vụ của từng khoa, ban. Từng cấp ủy đã nghiêm túc nghiên cứu, nắm chắc nội dung Cuộc vận động, gắn với nhiệm vụ trung tâm của từng khoa, ban để quán triệt, thực hiện chỉ thị, hướng dẫn, cụ thể hóa vào nhiệm vụ, vận động quần chúng tham gia xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Bệnh viện cụ thể hóa 5 tiêu chí về phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng và của cán bộ, tập trung xây dựng Bệnh viện văn hóa, xây dựng đơn vị theo hướng chính quy, cơ bản, vững chắc, đáp ứng tốt yêu cầu tổ chức khám, điều trị phục vụ chăm sóc sức khỏe thương binh, bệnh binh, các đối tượng chính sách và nhân dân trong khu vực, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong các tình huống, sẵn sàng cơ động giúp dân phòng chống thiên tai, thảm họa và dịch bệnh. Đây là trách nhiệm, lương tâm của người thầy thuốc mặc áo lính.

Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện Cuộc vận động, thời gian qua, Ban Giám đốc Bệnh viện đã chỉ đạo tổ chức hoạt động phong trào Thi đua quyết thắng và công tác khen thưởng, tích cực xây dựng điển hình, tuyên truyền học tập theo gương đạo đức của Bác, lồng vào các phong trào thi đua đột kích nhân các ngày lễ lớn trong năm. Trong năm, Bệnh viện đã tổ chức phát động 6 đợt thi đua đột kích; một buổi tọa đàm với Đoàn Bệnh viện Tâm thần tỉnh Tiền Giang; tổ chức hội thi báo cáo viên giỏi năm 2007 với chủ đề: tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X; kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức về nội dung cơ bản và những giá trị to lớn của tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác cho mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên; tạo sự chuyển biến sâu rộng, mạnh mẽ về ý thức tư tưởng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực sự đưa nội dung Cuộc vận động vào cuộc sống.

Tháng 7 năm 2008, Ban Giám đốc Bệnh viện có sự thay đổi nhân sự, đồng chí Trần Đình Thăng được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Bệnh viện, thay đồng chí Hồng Nhật Hùng nghỉ hưu; đồng chí Phan Hồng Phúc - Chủ nhiệm Khoa Nội chung được bổ nhiệm Phó Giám đốc Nội, thay đồng chí Trần Đình Thăng; đồng chí Đoàn Văn Tiếp được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Nội chung, thay đồng chí Phan Hồng Phúc. Cũng trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Ngọc Mai được bổ nhiệm Chủ nhiệm Khoa Dược, thay đồng chí Trần Thị Hà về nhận nhiệm vụ Giám đốc Trung tâm nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến dược liệu Quân khu 9.

Ngày 13 tháng 2 năm 2009, trên cơ sở quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 2009 của Quân khu, chỉ lệnh về công tác bảo đảm hậu cần và kế hoạch công tác quân y; đồng thời căn cứ kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm 2008, Bệnh viện lập kế hoạch xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện năm 2009.

Đầu năm 2009, ngay sau khi cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông được khánh thành, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện nhận định, lượng bệnh nhân khám chữa bệnh sẽ ngày càng tăng, nên đã làm văn bản trình Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu xây mới Khoa Khám bệnh và đã được phê duyệt, triển khai thực hiện. Khoa Khám bệnh mới có địa hình, địa thế thuận lợi cho việc triển khai tương đối hoàn thiện, với hơn 20 phòng khám liên hoàn, từ phòng khám yêu cầu, phòng khám nội, ngoại, sản, chuyên khoa, cận lâm sàng… Kết hợp với nguồn quỹ vốn của đơn vị, Bệnh viện đã đầu tư mua sắm các trang thiết bị hiện đại, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai chương trình phần mềm máy tính, tiện lợi cho các hoạt động chuyên môn và ngày càng nâng cao hiệu quả, chất lượng khám chữa bệnh.

Tháng 11 năm 2009, đồng chí Lê Tấn Luật - Chủ nhiệm Chính trị Cục Hậu cần Quân khu được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Bệnh viện, thay đồng chí Đặng Hữu Sự nghỉ hưu.

Năm 2010, là năm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Đối với Bệnh viện, bên cạnh thuận lợi là cầu Rạch Miễu hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện lưu thông giữa tỉnh Bến Tre với tỉnh Tiền Giang và các tỉnh khác được dễ dàng; đơn vị được cấp trên đầu tư xây dựng cơ bản khang trang, sạch đẹp, được bổ sung nhiều trang thiết bị y tế hiện đại, lực lượng chuyên môn được tăng cường, tình hình tổ chức biên chế ổn định; nội bộ đoàn kết thống nhất, đội ngũ cán bộ chủ trì nhiều năm gắn bó với Bệnh viện có bề dày kinh nghiệm… Tuy nhiên, nhiệm vụ của Bệnh viện năm 2010 cũng hết sức nặng nề, số lượng người đến khám, chữa bệnh ngày càng tăng, trong khi đó đội ngũ chuyên môn thường xuyên phải đi học, đi tập huấn nên quân số làm việc ở các khoa luôn trong tình trạng thiếu, nhất là lực lượng bác sĩ, nên đã ảnh hưởng đến tiến độ khám, chữa bệnh tại Bệnh viện và các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn.

Nhân kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27 tháng 2, một vinh dự đến với thập thể và cá nhân của Bệnh viện là 3 bác sĩ: Phan Hồng Phúc, Phạm Văn Hoàng và Nguyễn Xuân Sách được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”.

Ngày 13 tháng 5 năm 2010, được sự nhất trí của Đảng ủy Cục Hậu cần Quân khu, Đảng bộ Bệnh viện tổ chức Đại hội lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2010-2015. Đại hội đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm kỳ 2005-2010: Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị, lãnh đạo triển khai toàn diện các mặt công tác; tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đưa một số phương tiện kỹ thuật mới đã được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị thương, bệnh binh, thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản mà Đại hội Đảng bộ Bệnh viện nhiệm kỳ XIII đề ra. Trong 5 năm qua, Bệnh viện đã nhận vào điều trị cho hơn 30.000 lượt bệnh nhân, phẫu thuật cho hơn 3.000 ca, đảm bảo an toàn và hiệu quả cao. Trong điều trị, Bệnh viện luôn chú trọng kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền. Hiện tại, Bệnh viện đang hiệp đồng với Bệnh viện Quân y 175 - Bộ Quốc phòng, Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh triển khai lọc máu ngoài thận, mổ mắt kỹ thuật cao (Phaco). Trong 6 tháng đầu năm 2010, Bệnh viện đã tiến hành mổ mắt cho 56 trường hợp, được người bệnh tín nhiệm. Công tác huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ được duy trì thường xuyên, hằng năm Bệnh viện đều cử bác sĩ, điều dưỡng đi tập huấn ở các bệnh viện tuyến trên… Riêng cử đi học các trường 38 đồng chí, gồm: sau đại học 19 đồng chí, trong đó chuyên khoa II: 4 đồng chí, thạc sĩ: 3 đồng chí, chuyên khoa I: 12 đồng chí).

Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, qua phân tích chất lượng đảng viên và tổ chức đảng hằng năm, Đảng bộ luôn đạt trong sạch vững mạnh, 8/8 chi bộ đạt trong sạch vững mạnh. Trong nhiệm kỳ phát triển được 56 đảng viên, so với nghị quyết tăng 28 đồng chí, vượt 50%, nâng tỉ lệ lãnh đạo của Đảng bộ đạt 86,33%.

Đại hội cũng thẳng thắn nêu lên những mặt còn hạn chế, đó là: Việc chấp hành các chế độ chuyên môn có lúc chưa bám sát chức trách, nhiệm vụ được giao, xây dựng bệnh án, kê đơn thuốc đôi lúc chưa hợp lý. Công tác huấn luyện, nghiên cứu khoa học chưa chú trọng đúng mức, một số ít cán bộ chưa chịu khó tự học và nghiên cứu trong lĩnh vực đảm nhiệm.

Trong bầu không khí dân chủ, phấn khởi, trách nhiệm cao, Đại hội đã bầu 9 đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010-2015, gồm: Đại tá Lê Tấn Luật - Chính ủy Bệnh viện, Đại tá Trần Đình Thăng - Giám đốc Bệnh viện, Thượng tá Phan Hồng Phúc - Phó Giám đốc Bệnh viện, Đại tá Nguyễn Trọng Sinh - Phó Giám đốc Bệnh viện, Thượng tá Trương Hồng Thái - Phó Giám đốc Bệnh viện, Thiếu tá Lê Ngọc Thọ - Chủ nhiệm Chính trị,  Thượng tá Lê Duy Thụ - Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền, Thượng tá Bùi Ngọc Thụ - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chuyên khoa, đồng chí Nguyễn Ngọc Mai - Chủ nhiệm Khoa Dược.

Trong phiên họp đầu tiên, Ban chấp hành Đảng bộ đã tiến hành bầu đồng chí Lê Tấn Luật - Chính ủy Bệnh viện làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Trần Đình Thăng - Giám đốc Bệnh viện làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Ngọc Thọ - Chủ nhiệm Chính trị là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy.

Đại hội bầu Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bệnh viện gồm 3 đồng chí: Lê Ngọc Thọ, Lê Mạnh Cường, Hồ Văn Bảy; đồng chí Lê Ngọc Thọ - Chủ nhiệm Chính trị làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bệnh viện.

Đại hội Đảng bộ Bệnh viện nhiệm kỳ 2010-2015 thành công là nhân tố quan trọng, nguồn động viên mạnh mẽ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ Cục Hậu cần Quân khu lần thứ X, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu lần thứ VIII tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Thực hiện nghị quyết của Đại hội, các khoa, ban trong Bệnh viện đã nghiêm túc triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và xây dựng Bệnh viện ngày càng vững mạnh. Từ nhu cầu khám, chữa bệnh của bộ đội, bảo hiểm y tế và nhân dân ngày càng tăng cao về số lượng, Ban Giám đốc đã cử đồng chí Phó Giám đốc cùng Khoa Khám bệnh điều hành khám, chữa bệnh một cách hiệu quả. Đồng thời, được sự giúp đỡ của Ban Giám đốc Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện đã liên hệ mời Giáo sư - Tiến sĩ tim mạch cùng các đồng chí trong Ban Giám đốc triển khai 3 phòng khám theo yêu cầu, giải quyết kịp thời nguyện vọng của người bệnh, xứng tầm với bệnh viện loại II trong khu vực và của toàn quân.

Năm 2010, lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tăng hơn cùng kỳ năm trước, trong đó bộ đội tại ngũ là 1,63%, chính sách 0,16%, bảo hiểm y tế 28,3%, nhân dân 69,8%. Trung bình một ngày Bệnh viện có từ 500 đến 700 lượt người đến khám, chữa bệnh. Bệnh viện duy trì nghiêm chế độ trực chuyên môn, xử lý kịp thời các trường hợp bệnh diễn biến xấu vào cấp cứu, đưa đơn vị lọc máu và phẫu thuật Phaco mắt vào hoạt động. Thường xuyên tổ chức hội ý, hội chẩn nâng cao chất lượng điều trị. Trong điều trị, cơ bản đã thực hiện tốt chế độ kê đơn hợp lý an toàn, không để xảy ra tai nạn, tai biến trong điều trị. Đặc biệt, Khoa Y học cổ truyền hiện nay đã nhận điều trị di chứng tai biến mạch máu não, khớp mạn tính và các bệnh nội khoa mạn tính bằng thuốc nam, châm cứu lý liệu kết hợp. Đã chỉ định sử dụng thuốc nam cho 5.558 lượt bệnh nhân; châm cứu cho 3.010 lượt, lý liệu pháp cho 7.424 lượt.

Ngày 19 tháng 5 năm 2010, một vinh dự lớn đến với tập thể Bệnh viện: đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” theo Quyết định số 211/QĐ-CTN ngày 22 tháng 2 năm 2010 của Chủ tịch nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là phần thưởng cao quý, nguồn cổ vũ, động viên lớn, tạo thêm sức mạnh mới cho toàn thể cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện tiếp tục phấn đấu đưa Bệnh viện phát triển ngày càng bền vững.

Ngày 1 tháng 6 năm 2010, Đơn vị Thận nhân tạo được thành lập, biên chế gồm 2 bác sĩ, 4 điều dưỡng chuyên ngành Thận nhân tạo và trang bị 5 máy lọc máu NIPHRO của Nhật Bản, do bác sĩ chuyên khoa II - Lê Mạnh Cường phụ trách. Đến ngày 7 tháng 3 năm 2013, Đơn vị Thận nhân tạo được tách riêng để thành lập Khoa Thận nhân tạo và Chủ nhiệm Khoa là bác sĩ Lương Thị Rạng.

Cũng trong năm 2010, Chi bộ khối Ngoại II tách thành 2 chi bộ: Chi bộ Khoa Ngoại chung (B1) và Chi bộ Khoa Ngoại chuyên khoa (B3).

Tháng 7 năm 2010, theo hướng dẫn của Cục Chính trị Quân khu, Bệnh viện tiến hành tổng kết kế hoạch hành động “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” giai đoạn 2001-2010. Xác định công tác phụ nữ là một mặt của công tác đảng, công tác chính trị, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, do đó trong công tác lãnh đạo, Đảng ủy đã chỉ đạo cấp ủy, chủ nhiệm các khoa, ban, nhất là cơ quan chính trị tạo điều kiện thuận lợi cả vật chất, tinh thần cho chị em phụ nữ phấn đấu vươn lên trong công tác chuyên môn cũng như các hoạt động của Hội Phụ nữ. Vì vậy, trong 10 năm qua, lực lượng lao động nữ chiếm 40% trong biên chế của đơn vị, 100% đã qua đào tạo có trình độ từ sơ cấp trở lên (số chị em đi học đại học là 13, cao đẳng 4, trung cấp 92, sơ cấp 10), đồng thời hằng năm Bệnh viện tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao tay nghề cho số chị em làm nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần; tập huấn, hội thi hội thao công tác điều dưỡng được duy trì thường xuyên. Lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ nữ, nhất là chị em có trình độ cao đẳng, đại học đều được chú ý đưa vào cơ cấu lãnh đạo ở một số vị trí của cơ quan, đơn vị; hiện nay việc bố trí sắp xếp cán bộ nữ vào vị trí chủ chốt của cấp ủy đạt tỷ lệ 20%. Hội Phụ nữ đã thường xuyên duy trì tốt hoạt động của tổ, nhóm phụ nữ tương trợ, tiết kiệm. Từ năm 2001 đến năm 2010, Hội Phụ nữ của Bệnh viện đã huy động được tổng số vốn trên 2.040.000.000 đồng cho hơn 40 lượt chị em nhận để ổn định kinh tế gia đình, đến nay 100% gia đình chị em phụ nữ có kinh tế ổn định, không có gia đình chị em nghèo, khó khăn.

Ngày 19 tháng 11 năm 2010, Bệnh viện thành lập Khoa Chấn thương chỉnh hình do Thạc sĩ, bác sĩ Lê Mộng Tuyền làm Chủ nhiệm Khoa.

Ngày 25 tháng 11 năm 2010, Bệnh viện tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm lần thứ nhất phong trào thi đua “Xây dựng đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt” giai đoạn 2007 - 2011. Tham dự Hội nghị có các đồng chí trong Ban Giám đốc, Ban Chính trị, Ban Kế hoạch -  Tổng hợp, Ban Tài chính và Ban Hậu cần. Bộ phận Quân nhu đã đánh giá kết quả 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, nhìn nhận những việc làm được và chưa làm được, chỉ rõ nguyên nhân, kinh nghiệm và đề ra phương hướng nhiệm vụ phong trào thi đua cho những năm tiếp theo. Hội nghị biểu dương khen thưởng đơn vị và cá nhân đã đạt thành tích tốt trong thực hiện phong trào: về tập thể tặng giấy khen cho bộ phận bếp thương, bệnh binh; về cá nhân tặng giấy khen cho Đại úy quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thơm và Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Trang Ngọc Sơn.

Tháng 12 năm 2010, Bệnh viện tham gia diễn tập Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 6 tại Sư đoàn bộ binh 8 do Bệnh viện làm nòng cốt, bác sĩ Phan Hồng Phúc làm Giám đốc. Bệnh viện được Bộ Tư lệnh Quân khu đánh giá cao và tặng bằng khen.

Ngày 14 tháng 1 năm 2011, Bệnh viện tổ chức Hội nghị quân chính nhằm tổng kết công tác năm 2010 và triển khai nhiệm vụ năm 2011. Chủ trì hội nghị là Đại tá, bác sĩ Trần Đình Thăng - Giám đốc Bệnh viện. Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong năm 2010, Ban Giám đốc Bệnh viện đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 là: “Nắm chắc tình hình nhiệm vụ cấp trên giao, tiếp tục bổ sung các kế hoạch, tổ chức lực lượng và phương tiện để bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an toàn đơn vị, sẵn sàng cơ động và hoàn thành mọi nhiệm vụ đột xuất khi có lệnh; tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ thu dung, cấp cứu, điều trị, chăm sóc phục vụ người bệnh, chấp hành nghiêm các chế độ chuyên môn, thực hiện tốt 12 điều y đức của người thầy thuốc, duy trì tốt công tác huấn luyện, nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật mới để nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và hoàn thành tốt các nội dung công tác chuyên môn khác; tổ chức bảo đảm hậu cần - kỹ thuật - tài chính cho mọi hoạt động của Bệnh viện; tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ…”. Đồng thời, đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu: trong thực hiện nhiệm vụ trung tâm, tổ chức tốt công tác khám bệnh, điều trị theo phân cấp cho các đối tượng bệnh nhân, phấn đấu đạt các chỉ tiêu là: tỉ lệ sử dụng giường: trên 200%, tỉ lệ khỏi ra viện: 75% (Cục Quân y quy định 68%), tỉ lệ tử vong: 0,05% (Cục Quân y quy định 0,8%), ngày nằm điều trị khỏi trung bình một bệnh nhân: 15 ngày.

Về xây dựng Đảng, Đảng ủy Bệnh viện xác định: Phấn đấu cuối năm có 100% đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ, trong đó 95% trở lên đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; 100% cấp ủy và tổ chức đảng đạt trong sạch vững mạnh; không có đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý, kết nạp đảng viên mới 5 đồng chí.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra, tại Hội nghị này, Đại tá Lê Tuấn Luật - Chính ủy Bệnh viện đã phát động phong trào Thi đua quyết thắng năm 2011. Phong trào thi đua được Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình; các khoa, ban và cán bộ, nhân viên đã tích cực hưởng ứng, khí thế thi đua luôn sôi nổi rộng khắp trong toàn đơn vị.

Hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, công tác cứu trợ, thăm hỏi, tặng quà, khám bệnh cấp thuốc miễn phí đối với các đối tượng chính sách, đồng bào vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn trên địa bàn được duy trì thường xuyên. Bệnh viện đã hỗ trợ địa phương xây dựng nhà tình nghĩa 35 triệu đồng, nhà tình đồng đội 60 triệu đồng. Hỗ trợ các trường phổ thông cơ sở, phổ thông trung học tổng kết phát thưởng 11.500.000 đồng, ủng hộ cho các trường xây dựng quỹ khuyến học, giúp học sinh nghèo vượt khó ở thành phố Mỹ Tho 16 triệu đồng. Tổ chức khám bệnh nhân dân ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp được 15 đợt, cấp thuốc miễn phí với số tiền là 65.777.352 đồng.

 Về xây dựng cơ bản, Ban Giám đốc Bệnh viện thường xuyên chỉ đạo xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp. Bệnh viện tiếp tục được xây dựng mới thay đổi hẳn diện mạo của Bệnh viện như: nhà máy nước thải, Trung tâm Sức khỏe tâm thần kinh, Sở chỉ huy mới, nhà công vụ cho sĩ quan độc thân, bờ kè, khu nội trú 60 giường, hàng rào khu tâm thần. Khoa Tâm thần trước đây chủ yếu quản lý, điều trị cho các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, tiếng lành đồn xa từ khi mở rộng đối tượng phục vụ, bệnh nhân nhiều nơi đã tìm đến. Ngày 24  tháng 6 năm 2011, Khoa Tâm thần kinh được đổi tên là Khoa Tâm thần kinh Khu vực phía Nam.

Tháng 10 năm 2011, bác sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Chẩn đoán hình ảnh, thay bác sĩ Phạm Văn Hoàng nghỉ hưu.

Tháng 6 năm 2012, Bệnh viện thành lập Khoa Xét nghiệm được tách từ Khoa Chẩn đoán chức năng, đồng chí Nguyễn Văn Hoàng được phân công phụ trách Khoa. Tiền thân Khoa Xét nghiệm là bộ phận xét nghiệm trong Khoa Cận lâm sàng. Khoa có chức năng thực hiện các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa, miễn dịch, giải phẫu phục vụ cho các khoa lâm sàng. Với đội ngũ kỹ thuật viên có nhiều kinh nghiệm và thường xuyên được cập nhật kiến thức liên tục ở tuyến trên, nên chất lượng xét nghiệm luôn chính xác, trả kết quả xét nghiệm nhanh, phục vụ đắc lực cho công tác chẩn đoán, chữa bệnh cho các khoa lâm sàng.

Ngày 17 tháng 7 năm 2012, xuất phát từ nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng tăng, Bệnh viện thành lập thêm Khoa Chăm sóc và Điều trị theo yêu cầu do bác sĩ chuyên khoa I - Nguyễn Thành Long làm Chủ nhiệm Khoa. Khoa Chăm sóc và Điều trị theo yêu cầu có nhiệm vụ thu dung, điều trị các mặt bệnh nội và ngoại khoa cho bệnh nhân có yêu cầu dịch vụ y tế chất lượng cao.

Tháng 8 năm 2012, bác sĩ chuyên khoa I - Nguyễn Thanh Hùng được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Chẩn đoán hình ảnh, thay bác sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết xin nghỉ hưu theo nguyện vọng.

Trong công tác chuyên môn, Bệnh viện luôn quan tâm coi trọng thực hiện 6 công tác quản lý bệnh viện, 44 chế độ chuyên môn. Đội ngũ cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ luôn nêu cao quan điểm, thái độ, tinh thần phục vụ, đặc biệt làm tốt chế độ tâm lý tiếp xúc. Các thầy thuốc của Bệnh viện đã nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả nhiều đề tài nghiên cứu khoa học tập trung ở lĩnh vực nội khoa như điều trị bảo tồn tắc ruột bằng phương pháp hút liên tục, điều trị sỏi niệu quản bằng kim tiền thảo. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động của Đơn vị Thận nhân tạo, từ đó góp phần nâng cao uy tín của Bệnh viện.

Cuối năm 2012, Bệnh viện thành lập Bộ phận Đột quỵ não trực thuộc Khoa Hồi sức cấp cứu, do đồng chí Phạm Đại Thắng phụ trách.

Bên cạnh đó, các kỹ thuật khác cũng được Bệnh viện chú trọng, nhất là phẫu thuật nội soi các loại. Về phẫu thuật đục thủy tinh thể bằng phương pháp Phaco, Bệnh viện đã kết hợp với Bệnh viện Quân y 175 - Bộ Quốc phòng thực hiện, đến nay đã có hàng ngàn trường hợp được phẫu thuật đều đảm bảo an toàn tuyệt đối. Đặc biệt, Bệnh viện đang tiến hành thực hiện việc chuyển giao công nghệ phẫu thuật để Bệnh viện làm chủ. Ngoài ra, Bệnh viện đã mổ mộng thịt bằng phương pháp ghép kết mạc tự thân, mổ quặm thẩm mỹ, mổ cườm nước bằng phương pháp cắt bè củng mạc từ năm 2009 đến nay đạt hiệu quả rất tốt, làm cho bệnh nhân yên tâm, tin tưởng khi lên bàn mổ và hài lòng khi xuất viện, là địa chỉ đáng tin cậy trong khu vực gần xa.

Nhận thức rõ ý nghĩa, vai trò đặc biệt quan trọng của phương tiện máy móc trong việc hỗ trợ cho công tác điều trị, trong những năm gần đây Bệnh viện đã mua sắm thêm nhiều thiết bị trang bị cho các phòng, khoa. Riêng năm 2012, Khoa Y học cổ truyền mua sắm nhiều trang bị mới như: máy kéo giãn cột sống, laser trị liệu, siêu âm trị liệu. Khoa Cận lâm sàng được Bộ Y tế đầu tư 10 tỷ đồng nhằm trang bị thêm các máy móc giúp cho công tác chẩn đoán, theo dõi, điều trị được tốt hơn như: máy X quang KTS, máy xét nghiệm sinh hóa tự động, xét nghiệm miễn dịch Elisa, máy gây mê, máy thở chức năng cao… Tính đến năm 2012, Bệnh viện đã được Cục Quân y, Bộ Quốc phòng trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật điều trị công nghệ cao như: máy siêu âm 3 chiều 4 chiều, máy chụp X quang kỹ thuật số, máy X quang cao tần 500, máy xét nghiệm sinh hóa 720 thông số Hitachi 911 và 917, máy mổ mắt Phaco, máy kéo dãn cột sống lưng cổ, máy lọc máu ngoài thận, máy đo loãng xương… Có thể nói, những thiết bị mới này đã góp phần “thu dung nhanh, điều trị nhanh”, nhằm giúp bệnh nhân và người nhà bớt lo lắng, căng thẳng, giảm bớt thời gian chờ đợi. Qua đó, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, tạo điều kiện cho người bệnh tiếp cận với những dịch vụ kỹ thuật cao, ít phải di chuyển lên bệnh viện tuyến trên.  

Để thuận tiện cho việc đăng ký khám chữa bệnh, hệ thống phòng khám của Bệnh viện được vi tính hóa. Quy trình hoạt động được đồng bộ thông qua mạng nội bộ thu ngân - tiếp nhận - phòng khám - cận lâm sàng - cấp phát thuốc, kết quả khám bệnh được lưu trữ qua hệ thống mạng trung tâm; vì vậy đã đáp ứng được nhu cầu khám bệnh ngày một tăng, rút ngắn được thời gian chờ đợi, không gây phiền hà cho bệnh nhân.

Thực hiện chỉ thị của Cục Chính trị Quân khu và hướng dẫn của Phòng Chính trị Cục Hậu cần, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03- CT/W của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho cán bộ, công nhân viên trong Bệnh viện. Đồng thời, tập trung giáo dục nâng cao trình độ chính trị tư tưởng cho cán bộ, công nhân viên; năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức đảng; vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Năm 2012, Bệnh viện thực hiện có hiệu quả phong trào Thi đua quyết thắng, duy trì chế độ đối thoại dân chủ, hoạt động của Hội đồng thi đua có nền nếp. Trong phát động thi đua đều gắn phong trào Thi đua quyết thắng với các cuộc vận động lớn trong toàn quân. Từ đó, hoạt động phong trào thi đua của Bệnh viện đạt được kết quả tích cực. Tổng kết năm 2012, Bệnh viện được Quân khu tặng Cờ Thi đua quyết thắng, Đảng bộ Bệnh viện được công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh, nhiều đồng chí được khen thưởng.

Tháng 11 năm 2012, một số khoa có sự thay đổi về nhân sự: Bác sĩ Lê Mạnh Cường được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Nội, bác sĩ Nguyễn Thanh Tùng được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Bệnh nhiệt đới thay bác sĩ Lê Mạnh Cường; bác sĩ Lê Duy Thụ được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa Cán bộ, thay bác sĩ Võ Ngọc Nuôi, bác sĩ Nguyễn Văn Út được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền, thay bác sĩ Lê Duy Thụ.

Để đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả phương hướng nhiệm vụ năm 2013, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện chủ trương xây dựng tổ chức đảng và đơn vị điểm, đó là: chọn Chi bộ khối Nội 1 làm đơn vị điểm trong xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, các khoa trong chi bộ vững mạnh toàn diện; Ban Kế hoạch - Tổng hợp làm đơn vị điểm về xây dựng nền nếp chính quy và rèn luyện kỷ luật; Khoa Khám bệnh làm điểm về quan điểm phục vụ và tâm lý tiếp xúc bệnh nhân.

Tháng 3 năm 2013, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện có sự thay đổi nhân sự, Đại tá Trần Đình Thăng - Giám đốc Bệnh viện được cấp trên cho nghỉ hưu, Đại tá Phan Hồng Phúc được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Bệnh viện thay đồng chí Thăng. Cũng thời gian này, bác sĩ Nguyễn Văn Trãi được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Chăm sóc và Điều trị theo yêu cầu, thay bác sĩ Nguyễn Thanh Long được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh thay bác sĩ Phạm Thị Sum nghỉ hưu, Trung tá Trần Minh Tuấn được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Hậu cần, thay Thượng tá Tô Văn Phòng nghỉ hưu.

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, một số khoa, ban của Bệnh viện được tách ra thành lập khoa, ban mới: tháng 10 năm 2013, Ban Y tá điều dưỡng được tách ra từ Ban Y vụ, điều dưỡng Huỳnh Sơn Khương được bổ nhiệm làm Trưởng ban. Ban Y vụ lúc này được đổi tên thành Ban Kế hoạch - Tổng hợp, bác sĩ Phạm Đại Thắng được bổ nhiệm giữ chức Trưởng ban. Tổ chức, biên chế của Bệnh viện thời điểm này gồm có: Ban Giám đốc, 5 ban (Ban Kế hoạch - Tổng hợp, Ban Điều dưỡng, Ban Chính trị, Ban Hậu cần, Ban Tài chính) và 15 khoa (Khoa Dược - Trang bị, Khoa Khám bệnh, Khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Khoa Ngoại chung, Khoa Ngoại chấn thương, Khoa Ngoại chuyên khoa, Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Phục hồi chức năng, Khoa Cán bộ, Khoa Nội chung, Khoa Tâm thần kinh, Khoa Bệnh nhiệt đới, Khoa Thận nhân tạo, Khoa Y học cổ truyền, Khoa Chăm sóc và Điều trị theo yêu cầu và Khoa Xét nghiệm), với tổng quân số là 410 đồng chí, trong đó có 42 bác sĩ.

Về tổ chức đảng, Đảng bộ Bệnh viện Quân y 120 là tổ chức cơ sở đảng 2 cấp, có 9 chi bộ trực thuộc (Chi bộ Y vụ - Chính trị, Chi bộ Dược - Phòng Khám, Chi bộ Hậu cần - Tài chính, Chi bộ Hồi sức cấp cứu, Chi bộ Ngoại chung, Chi bộ Nội 1, Chi bộ Nội 2, Chi bộ Ngoại chuyên khoa và Chi bộ Chẩn đoán chức năng) với 199 đảng viên; 3 tổ chức quần chúng: Đoàn cơ sở, Hội Phụ nữ cơ sở và Công đoàn cơ sở.

Tháng 7 năm 2013, căn cứ Hướng dẫn 936/KH-PCT ngày 3 tháng 6 năm 2013 của Phòng Chính trị Cục Hậu cần Quân khu 9 về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 335-NQ/ĐUQK của Thường vụ Đảng ủy Quân khu về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong giai đoạn mới (2003 - 2013)”, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm hoạt động công tác dân vận của Bệnh viện. Đánh giá kết quả đạt được, Bí thư Đảng ủy - Chính ủy Bệnh viện Lê Tấn Luật đã nêu rõ: Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 335/NQ-ĐUQK của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, cấp ủy, chủ nhiệm các khoa, ban đã có nhận thức đúng đắn và có sự quan tâm đầu tư cả về vật chất và tinh thần cho công tác dân vận. Bệnh viện thường xuyên quan tâm củng cố, phát triển mối quan hệ đoàn kết, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, luôn duy trì một đội điều trị và hai tổ cấp cứu sẵn sàng cơ động giúp dân khắc phục hậu quả khi có tình huống xảy ra. Cụ thể là, cuối năm 2006, Bệnh viện đã giúp dân khắc phục hậu quả cơn bão số 9 tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, khám cho 1.313 người, cấp phát 26 cơ số thuốc các loại; khám, chữa bệnh cho 60 đồng chí bộ đội địa phương và Sư đoàn bộ binh 8 đang làm nhiệm vụ khắc phục cơn bão.

Công tác“đền ơn đáp nghĩa” được Bệnh viện chú trọng quan tâm. Trong 10 năm qua, Bệnh viện đã kết hợp với phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xây dựng nhà tình thương cho những cán bộ, công chức khó khăn; tổ chức khám bệnh giúp dân và thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, cán bộ lão thành hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre; đóng góp xây dựng các trường học và ủng hộ các cháu học sinh nghèo hiếu học với tổng số tiền 130.750.000 đồng…

Kết quả công tác vận động quần chúng trong 10 năm qua, Bệnh viện đã nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp của chính quyền và nhân dân địa phương, nhân dân càng hiểu rõ hơn về đơn vị, về Quân đội và nâng cao ý thức trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đồng thời, thông qua các hoạt động dân vận, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Bệnh viện nâng cao nhận thức về giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết quân, dân, xây dựng tác phong người quân nhân cách mạng khi quan hệ, tiếp xúc với nhân dân, khắc họa hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng quần chúng nhân dân.

Tháng 9 năm 2013, đồng chí Nguyễn Tấn Phong - Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh Bệnh viện Quân y 121 được điều động, bổ nhiệm chức Phó Giám đốc Ngoại, thay đồng chí Nguyễn Trọng Sinh được trên cho nghỉ hưu. Đến tháng 12 năm 2014, đồng chí Vũ Đăng Trung được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Ngoại, thay đồng chí Nguyễn Tấn Phong có quyết định điều chuyển về Bệnh viện Quân y 121 giữ chức Phó Giám đốc.

Năm 2014, Ban Giám đốc Bệnh viện và một số khoa có sự thay đổi về nhân sự: Tháng 3 năm 2014, đồng chí Đặng Tiến Phước được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Bệnh viện thay đồng chí Lê Tấn Luật được trên cho nghỉ hưu. Tháng 6 năm 2014, đồng chí Lương Vĩnh Khánh được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Y vụ thay đồng chí Trương Hồng Thái được nghỉ hưu. Bác sĩ Phan Bá Lưu được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chuyên khoa thay bác sĩ Bùi Ngọc Thụ được nghỉ hưu. Tháng 10 năm 2014, đồng chí Nguyễn Xuân Mích được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung thay đồng chí Vũ Đăng Trung.

Năm 2014, Bệnh viện tiến hành khởi công xây dựng Trung tâm Phẫu thuật hồi sức cấp cứu với nguồn vốn đầu tư 50 tỷ đồng, triển khai các hạng mục xóa nhà cấp 4. Đồng thời, nâng cấp sửa chữa các khoa, ban; đầu tư một số máy móc chẩn đoán hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng công tác khám, thu dung, cấp cứu điều trị bệnh nhân. Tổng kết năm, Bệnh viện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ Quốc phòng tặng Cờ thưởng luân lưu.

Năm 2015, là năm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước và của lực lượng vũ trang Quân khu: kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2.1930-3.2.2015), 70 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2.9.1945-2.9.2015), 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30.4.1975-30.4.2015), 70 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu 9 (1945-2015) và là năm tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Tình hình chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân ổn định. Bệnh viện được trên đầu tư xây dựng một số hạng mục xây dựng cơ bản.

Tổ chức biên chế của Bệnh viện cơ bản ổn định, nhưng đội ngũ y, bác sĩ luôn thiếu so với yêu cầu, do cán bộ chủ trì các khoa, ban luân chuyển, đi học, nghỉ chính sách; thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp khó lường, đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

Từ những đặc điểm tình hình trên, để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2015, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xác định phương hướng cần tập trung lãnh đạo là: Tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của trên, nâng cao chất lượng công tác khám, thu dung, điều trị và tâm lý tiếp xúc; quan tâm đầu tư khai thác có hiệu quả các trang bị máy móc chẩn đoán hiện đại, kiến nghị trên tăng cường bổ sung nguồn nhân lực nhất là đội ngũ cán bộ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tiếp tục lãnh đạo hoàn thành các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bệnh viện nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra. Chuẩn bị chu đáo mọi mặt để tổ chức thành công đại hội Đảng bộ, các chi bộ nhiệm kỳ tới theo kế hoạch.

Đầu năm 2015, để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2015, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện cùng lãnh đạo, chỉ huy các khoa, ban đã làm tốt việc quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của cấp trên về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và phong trào Thi đua quyết thắng. Phát động phong trào Thi đua quyết thắng năm 2015, các đợt thi đua đột kích, cao điểm, nhất là đợt thi đua chào mừng đại hội Đảng các cấp và thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9; gắn phong trào Thi đua quyết thắng với phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”. Qua các đợt thi đua đã góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của từng khoa, ban. Tổ chức tốt Hội nghị sơ kết 5 năm lần thứ tư phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của Bệnh viện giai đoạn 2010-2015.

Đầu năm 2015, một số khoa, ban có sự thay đổi về nhân sự. Đồng chí Vũ Thị Hà được chỉ định phụ trách Khoa Dược thay đồng chí Nguyễn Ngọc Mai được điều chuyển về công tác tại Bệnh viện Quân y 121. Đồng chí Đỗ Văn Khanh được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm Hậu cần thay đồng chí Trần Minh Tuấn. Đồng chí Võ Minh Thảo được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Chính trị, thay đồng chí Lê Ngọc Thọ.

Quý I năm 2015, Bệnh viện triển khai Trang thông tin điện tử (Web) và bảng điện tử nhằm góp phần quảng bá hình ảnh Bệnh viện đến với tất cả mọi người dân. Đường dây nóng hoạt động 24/24 nhận hàng trăm cuộc điện thoại giải đáp thắc mắc, phản ánh thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhân viên trong công tác khám, chữa bệnh. Vì vậy, đã giải quyết nhanh chóng, kịp thời tạo thêm sự tin tưởng cho bộ đội và nhân dân địa phương đến khám, chữa bệnh tại Bệnh viện.

Thực hiện Kế hoạch số 572-KH/ĐU ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Đảng ủy Cục Hậu cần Quân khu về tổ chức đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, ngày 21 tháng 4 năm 2015, Bệnh viện tiến hành Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020 thành công tốt đẹp. Đánh giá công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ qua, Nghị quyết Đại hội nêu rõ:“Đảng bộ đã lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các khâu đột phá, các mục tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2010-2015 đề ra. Hoạt động chuyên môn kỹ thuật được giữ vững và không ngừng phát triển, một số kỹ thuật mới được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị; các chế độ công tác chuyên môn được duy trì và củng cố đi vào nền nếp. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, an tâm tư tưởng, xác định nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.”

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng nêu lên một số khuyết điểm tồn tại và đề ra phương hướng lãnh đạo cho nhiệm kỳ tới. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới mới 11 gồm đồng chí: Đặng Tiến Phước - Chính ủy, Phan Hồng Phúc - Giám đốc, Võ Minh Thảo - Chủ nhiệm Chính trị, Lương Vĩnh Khánh - Phó Giám đốc, Lê Mạnh Cường - Phó Giám đốc, Vũ Đăng Trung - Phó Giám đốc, Phan Bá Lưu - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chuyên khoa, Nguyễn Thanh Tùng - Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm (A4), Đoàn Văn Tiếp - Chủ nhiệm Khoa Nội chung (A2), Nguyễn Xuân Mích - Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung (B2), Phạm Đại Thắng - Trưởng ban Kế hoạch - Tổng hợp. Ban Thường vụ gồm 3 đồng chí: Đặng Tiến Phước, Phan Hồng Phúc và Võ Minh Thảo. Đồng chí Đặng Tiến Phước - Chính ủy Bệnh viện được bầu làm Bí thư, đồng chí Phan Hồng Phúc - Giám đốc Bệnh viện được bầu làm Phó Bí thư, đồng chí Võ Minh Thảo - Chủ nhiệm Chính trị - Ủy viên. Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bệnh viện gồm 5 đồng chí: Nguyễn Hải Đoàn, Võ Minh Thảo, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Đại Thắng, Phan Bá Lưu; đồng chí Võ Minh Thảo giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra.

Ngày 1 tháng 5 năm 2015, Bệnh viện thành lập thêm Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn do Thượng úy quân nhân chuyên nghiệp Bùi Quốc Việt làm Chủ nhiệm Khoa. Như vậy, Bệnh viện lúc này có tổ chức biên chế là Ban Giám đốc, 16 khoa, 5 ban; tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ là 9 chi bộ. Bệnh viện có 3 tổ chức quần chúng gồm Đoàn cơ sở, Hội phụ nữ cơ sở và Công đoàn cơ sở.

Tháng 7 năm 2015, Bệnh viện tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2015, trong báo cáo, phần đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, Đại tá bác sĩ Phan Hồng Phúc - Giám đốc Bệnh viện nêu rõ: trong 6 tháng đầu năm 2015, Bệnh viện đã thực hiện tốt công tác khám, thu dung, cấp cứu, điều trị cho bộ đội và nhân dân trong khu vực. Duy trì nghiêm chế độ trực chuyên môn, xử lý cấp cứu kịp thời. Thường xuyên tổ chức hội ý, hội chẩn nhằm tập trung trí tuệ và nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh. Cơ bản thực hiện tốt chế độ kê đơn hợp lý, an toàn, hạn chế xảy ra tai biến, tai nạn trong điều trị. Khai thác có hiệu quả trang bị máy móc, giúp cho công tác chẩn đoán và điều trị có hiệu quả.

Kết quả so với cùng kỳ năm 2014: Năm 2015 đã khám bệnh 109.629 ca tăng 8,37%; thu dung 7.571 ca giảm 1,41%; tỉ lệ ra khỏi viện 78,5%; tỉ lệ sử dụng giường 257,3%; ngày nằm điều trị trung bình 8 ngày; tỉ lệ tử vong 0,01%. Khoa Hồi sức cấp cứu tiếp nhận từ 50 đến 60 ca/ngày, xử lý cấp cứu nhiều ca bệnh nặng, tai nạn giao thông và tai nạn lao động; gây mê hồi sức bảo đảm an toàn cho các ca phẫu thuật; sử dụng thành công thuốc tiêu sợi huyết cho nhiều bệnh nhân nhồi máu não, nhồi máu cơ tim cấp đến sớm, xử lý ngừng tuần hoàn hô hấp có nhiều tiến bộ.

Đơn vị Thận nhân tạo hoạt động liên tục với 40 máy trong ngày, lọc máu cho 300 bệnh nhân kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, góp phần giải quyết tình trạng quá tải cho các bệnh viện trong khu vực.

Khoa Bệnh nhiệt đới đã cấp cứu thành công cho 126 ca bị ngộ độc thực phẩm của Công ty Simone vào ngày 24 tháng 4 năm 2015. Khoa Tâm thần kinh được đầu tư sửa chữa cơ bản, số lượng khám bệnh ngoại trú 837 ca, thu dung, điều trị 326 ca.

Khoa Y học cổ truyền mở phòng khám ngoại trú tạo thành 3 bộ phận hoạt động theo đúng quy định, các khoa có sự kết hợp chặt chẽ giữa điều trị Đông, Tây y kết hợp, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.

Khối Ngoại tiếp tục duy trì thế mạnh về phẫu thuật tuyến giáp, phát triển phẫu thuật nội soi và chấn thương chỉnh hình; triển khai phẫu thuật xương khớp dưới hướng dẫn của máy C-arm; chuyển vạt có cuống ghép da mỏng, tăng cường củng cố phẫu thuật chuyên khoa; công tác gây mê hồi sức bảo đảm an toàn, không để xảy ra tai biến, biến chứng.

Các khoa cận lâm sàng khai thác hiệu quả các trang thiết bị, đưa ra kết quả nhanh chóng, chính xác, kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh nhân. Tiếp tục duy trì hợp tác với Khoa Huyết học truyền máu Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố Hồ Chí Minh tạo được nguồn máu đáp ứng nhu cầu điều trị.

Bên cạnh công tác chuyên môn, công tác huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học được Bệnh viện rất quan tâm: Trong năm, Bệnh viện tổ chức hội thi điều dưỡng giỏi cấp bệnh viện thành công; tổ chức 3 lớp tập huấn kỹ năng giao tiếp để nâng cao y đức, tâm lý tiếp xúc, tạo bước chuyển biến mới trong nhận thức phục vụ người bệnh. Hoàn thành lớp đào tạo y sĩ khóa 4 bảo đảm thời gian và chương trình huấn luyện, thi tốt nghiệp, tỉ lệ khá, giỏi chiếm 53,5%. Đầu năm đăng ký 9 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và 1 đề tài cấp Quân khu, đã thông qua đề cương 5 đề tài tại Bệnh viện.

Công tác hậu cần - tài chính bảo đảm đầy đủ. Bếp ăn bệnh binh đạt tiêu chuẩn, đúng chế độ đạt 3.218kcalo/người/ngày và thực hiện tốt tài chính công khai hằng ngày. Tăng gia sản xuất thu 328 triệu đồng đạt 55% kế hoạch. Thực hiện tốt nguyên tắc tài chính quản lý thu, chi, thanh quyết toán kịp thời, đúng quy định.

Công tác xây dựng cơ bản, Bệnh viện đã cải tạo, sửa chữa Khoa Bệnh nhiệt đới, B1, nhà chứa rác, Hội trường A, nâng cấp tường rào bảo vệ, nhà vòm A6, xóa nhà cấp 4, xây mới Khoa Tâm thần kinh, giám sát thi công Trung tâm Phẫu thuật, hồi sức cấp cứu. Thực hiện tốt chức năng giám sát, kiểm tra chất lượng, tiến độ thi công đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo thời gian theo kế hoạch.

Ngày 18 tháng 8 năm 2015, Bệnh viện tiến hành Hội nghị tổng kết nhiệm vụ huấn luyện, hậu cần 5 năm (2011-2015). Hội nghị đánh giá kết quả công tác huấn luyện 5 năm: Trong 5 năm đơn vị huấn luyện đào tạo 3 lớp y tá, 4 lớp y sĩ với tổng số 905 học viên, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 95%. Huấn luyện điều dưỡng 695 học viên. Đơn vị cử cán bộ đi đào tạo theo chỉ tiêu Quân khu giao gồm: chuyên khoa II 3 đồng chí, chuyên khoa I 4 đồng chí, y sĩ 2 đồng chí và điều dưỡng 1 đồng chí. Cán bộ, công nhân viên được tập huấn nâng bậc các ngành 480 lượt, ngành dược 75 lượt, quân nhu 2 lượt, xăng dầu 1 lượt, vận tải 1 lượt, doanh trại 97 lượt và lái xe 11 lượt. Đồng thời, Bệnh viện tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào Thi đua quyết thắng. Qua tổng kết phong trào Thi đua quyết thắng và “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” năm 2014 Bệnh viện được Quân khu khen thưởng một giấy khen cho cá nhân và Cờ thi đua cho đơn vị 5 năm liền dẫn đầu phong trào Thi đua quyết thắng.

Hội nghị cũng nêu lên một số thiếu sót khuyết điểm là: việc triển khai và thực hiện kế hoạch huấn luyện đôi lúc chưa kịp thời, việc kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; công tác tham mưu của ngành chưa thật sự chủ động, nặng về hình thức; một số cán bộ, công nhân viên nhận thức về vai trò, vị trí, chức trách hậu cần chưa cao.

Về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đến năm 2015 bên cạnh trang thiết bị, cơ sở vật chất của Bệnh viện ngày càng được đầu tư, hiện đại hóa; trình độ tay nghề của đội ngũ y, bác sĩ không ngừng được nâng cao, vì vậy rất nhiều các ca bệnh nặng được Bệnh viện cấp cứu và điều trị thành công. Điển hình như lúc 14 giờ ngày 24 tháng 8 năm 2015, Khoa Hồi sức cấp cứu tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Văn Nhơn, 77 tuổi, thường trú ở ấp Hội Gia, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, vào viện trong tình trạng bị đột quỵ nhồi máu não giờ thứ 2, với tình trạng khó thở, chóng mặt, đau đầu, tê cứng nửa người phía trái, huyết áp tăng. Thiếu tá bác sĩ Phạm Đại Thắng - Trưởng ban Kế hoạch -Tổng hợp và kíp trực đã nhanh chóng xử lý cấp cứu, lập tức điều trị cho ông bằng thuốc Tiêu sợi huyết truyền qua 3ml/p, liều 700ml/h Alteplase (Actylyse lọ 50mg/50ml) được dùng với liều 0.9mg/kg, trong đó 10% tiêm liền vào tĩnh mạch trong một phút và 90% còn lại được truyền tĩnh mạch liên tục trong một giờ. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, bệnh nhân tiếp xúc tốt, cảm giác dễ chịu hơn, liệt nửa người trái đã phục hồi nhanh, tim đều, bụng mềm, mạch 83lần/p, huyếp áp 140/76mmHg, nhiệt độ cơ thể 36,80C, cảm giác tay nặng hơn chân, không rối loạn cơ vòng. Sáng hôm sau bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không khó thở, không đau đầu, tay trái, chân trái đã cử động được, khả năng phục hồi trên 90%.

Đối với việc tổ chức dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thì công tác hướng dẫn và tư vấn trong chăm sóc sức khỏe là một phần quan trọng không thể thiếu trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe của các cơ sở y tế. Vì vậy, để đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng, từ ngày 1 tháng 9 năm 2015, Bệnh viện thành lập Tổ hướng dẫn và tư vấn sức khỏe trực thuộc Ban Điều dưỡng của Bệnh viện. Với nhiệm vụ: Tra cứu thông tin, tiếp nhận thông tin phản hồi; hướng dẫn khám chữa bệnh, giải đáp các chế độ bảo hiểm y tế, tư vấn chăm sóc sức khỏe trực tiếp cho người bệnh tại Bệnh viện. Tổ có 12 người là y sĩ, điều dưỡng tuổi còn trẻ, đã được cử đi tập huấn, tham quan chăm sóc khách hàng và tư vấn sức khỏe tại các bệnh viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đà nẵng.

Tổ hướng dẫn và tư vấn sức khỏe thực hiện theo nguyên tắc dựa trên nhu cầu, mong muốn của bệnh nhân, dựa trên sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, nhằm giúp người bệnh có hiểu biết đúng, biết cách xử trí và quyết định các vấn đề về khám và điều trị bệnh của bản thân; hướng dẫn tư vấn về quy trình khám bệnh, điều trị và bảo hiểm y tế. Mỗi cuộc tư vấn có mục đích, nội dung, phương pháp cụ thể khác nhau nhưng đều có chung các kỹ năng, yêu cầu và các bước tư vấn có chất lượng đó là: Tôn trọng khách hàng (bệnh nhân), đảm bảo giữ bí mật, không tiết lộ thông tin về khách hàng nếu chưa được khách hàng đồng ý, luôn kiên trì lắng nghe để hiểu rõ nhu cầu và mong muốn của khách hàng và đặt mình vào hoàn cảnh của khách hàng để hiểu họ nghĩ gì, muốn gì và làm thế nào để giúp họ trên tinh thần tin cậy, cởi mở, tôn trọng lẫn nhau. Bên cạnh đó, việc đưa Tổ hướng dẫn và tư vấn sức khỏe vào hoạt động đã giải quyết được tình trạng quá tải bệnh nhân tại Khoa Khám bệnh và các khoa lâm sàng, rút ngắn thời gian khám và đảm bảo đầy đủ quyền lợi của người bệnh, người hưởng chế độ bảo hiểm y tế.

Đây là bước đi tiên phong “đột phá” trong lĩnh vực y tế của một bệnh viện Quân đội để giải quyết thỏa mãn nhu cầu, tạo sự hài lòng, tin tưởng cho thương binh, bệnh binh, bệnh nhân, người thân bệnh nhân khi đến khám và điều trị tại Bệnh viện.

Ngày 26 tháng 10 năm 2015, Bệnh viện tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Cuộc Vận động 50 về “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”. Trong tổ chức thực hiện Cuộc vận động này, các khoa, ban đã tích cực hưởng ứng, lấy Khoa Dược, Cận lâm sàng và Ban Hậu cần làm nòng cốt, phối hợp với các tổ chức quần chúng thanh niên, phụ nữ, công đoàn. Cơ quan chính trị giám sát, theo dõi, truyền thông, gắn Cuộc vận động 50 với phong trào Thi đua quyết thắng, phong trào xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tổ chức tuyên truyền tuần lễ giao thông, an toàn vệ sinh lao động, phòng cháy chữa cháy. Khoa Dược và Cận lâm sàng gắn với phong trào “Quân y 5 tốt”, Ban Hậu cần gắn với phong trào “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, phong trào “xây dựng đơn vị vận tải chính quy, an toàn, hiệu quả”. Qua đó, đã làm cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phát huy ý thức tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, ưu tiên bảo đảm cho vũ khí, trang bị kỹ thuật, an toàn lao động, an toàn giao thông, duy trì nền nếp chế độ công tác kỹ thuật, góp phần quan trọng trong hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày 3 tháng 12 năm 2015, để kịp thời ngăn chặn những hành vi xấu dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trong công tác điều trị, ảnh hưởng đến uy tín của Bệnh viện, Đại tá Phan Hồng Phúc - Giám đốc Bệnh viện đã ra Chỉ thị 470/CT-BV về chấn chỉnh thái độ, tinh thần và tác phong của cán bộ, nhân viên trong thực hiện công tác chuyên môn. Giám đốc Bệnh viện yêu cầu:

1. Quán triệt và thực hiện nghiêm 12 điều y đức, 44 chế độ chuyên môn, đặc biệt là chế độ tâm lý tiếp xúc, chế độ khám bệnh, kê đơn và chế độ điểm bệnh, hội ý, hội chẩn kịp thời. Thực hiện nghiêm nguyên tắc ứng xử trong cán bộ nhân viên, thay đổi thái độ, phong cách làm việc nhằm mang đến sự hài lòng của bệnh nhân.

2. Các ca, kíp trực phải đủ số lượng người theo quy định, trực đúng vị trí, đúng tác phong, tuyệt đối không uống rượu bia khi thực hiện nhiệm vụ, không chơi game trên điện thoại, máy tính, không đeo tai nghe điện thoại hay nghe nhạc, không nói chuyện điện thoại khi thực hiện nhiệm vụ (trừ điện thoại của chỉ huy, cấp trên gọi đến).

 Hệ thống bác sĩ trực viện, trực cấp cứu, trực ICU phải thực hiện nghiêm xử lý các ca bệnh theo phân cấp, hội ý, hội chẩn và báo cáo kịp thời khi có bất thường xảy ra.

3. Chủ nhiệm các khoa lâm sàng thực hiện nghiêm việc điểm bệnh, phân công y, bác sĩ phụ trách buồng bệnh phù hợp với năng lực trình độ và chủ nhiệm khoa phải chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc những vấn đề xảy ra tại khoa mình phụ trách.

4. Ban Kế hoạch - Tổng hợp trực đúng theo nhiệm vụ, chức trách, tăng cường kiểm tra thường xuyên các kíp trực.

5. Trực ban nắm chắc tình hình trật tự nội vụ trong đơn vị, kịp thời báo cáo trực chỉ huy khi có những vấn đề xảy ra như an ninh trật tự.

6. Tổ Cờ đỏ thường xuyên kiểm tra định kỳ và đột xuất trong đơn vị. Ban Chính trị, Hội đồng Thi đua, khen thưởng xem xét những hành vi vi phạm gây hậu quả xấu ảnh hưởng uy tín bệnh viện và đề xuất các biện pháp kỷ luật.

Chỉ thị số 470/CT-BV ngày 3 tháng 12 tháng 2015 của Bệnh viện Quân y 120 đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện trong việc chấn chỉnh thái độ, tinh thần và tác phong của cán bộ, nhân viên đối với việc khám, chữa bệnh. Qua đó, nêu cao tinh thần hết lòng, hết sức phục vụ người bệnh, coi nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, đến với người bệnh bằng nhiệt tình, trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp và tấm lòng nhân ái của người thầy thuốc, xây dựng Bệnh viện đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của các bệnh nhân, xứng đáng là địa chỉ tin cậy cho thương, bệnh binh, các đối tượng chính sách và nhân dân trên địa bàn.

Năm 2016, là năm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 -2021; kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của Quân đội và kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Cục Hậu cần Quân khu 9. Đơn vị được cấp trên quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản một số hạng mục. Tổ chức biên chế của Bệnh viện cơ bản ổn định, nhưng đội ngũ y, bác sĩ luôn thiếu so với yêu cầu. Cán bộ chủ trì các hoa, ban thường xuyên luân chuyển, đi học, nghỉ chính sách…

 Từ tình hình trên, Nghị quyết số 36-NQ/ĐU ngày 12 tháng 1 năm 2016 của Đảng ủy Bệnh viện đã đề ra phương hướng: “… Lãnh đạo Bệnh viện hoàn thành các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bệnh viện nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra. Tập trung thực hiện ba khâu đột phá:“Nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hạn chế vi phạm kỷ luật; duy trì chấp hành nghiêm các chế độ nền nếp nguyên tắc sinh hoạt đảng, đề cao tính chiến đấu, vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ; thường xuyên rèn luyện y đức, nâng cao y thuật, tận tụy với công việc chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân”.

Thực hiện nghị quyết đã đề ra, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện, cấp ủy, chủ nhiệm các khoa, ban đã lãnh đạo thực hiện nghiêm túc nghị quyết, bám sát nhiệm vụ trọng tâm, tập trung khắc phục yếu kém khuyết điểm, tổ chức thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, yêu cầu nghị quyết đề ra.

Tháng 4 năm 2016, Bệnh viện tổ chức Hội nghị tổng kết phong“Lực lượng vũ trang Quân khu chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2013-2016. Ngay từ tháng 9 năm 2013, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần, Bệnh viện đã ký kết với xã Vang Quới Đông, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre thực hiện phong trào“Lực lượng vũ trang Quân khu chung sức xây dựng nông thôn mới”. Qua 3 năm thực hiện, Bệnh viện đã tham gia cùng địa phương tu sửa, nâng cấp 15km đường giao thông nông thôn, nạo vét 12km kênh, rạch; củng cố nhiều thiết chế văn hóa cơ sở với số tiền hàng trăm triệu đồng; đơn vị hỗ trợ xây dựng 3 nhà tình nghĩa trị giá 120.000.000 đồng; thăm tặng quà gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ quỹ địa phương 200.000.000 đồng; củng cố các trạm y tế, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí 80.000.000 đồng…

Trong quá trình tổ chức thực hiện, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự phối hợp chặt chẽ của Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện và cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với sự đồng lòng chung sức của nhân dân, xã Vang Quới Đông đã đạt một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới đề ra. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong xã được nâng lên, bộ mặt xã hội có bước phát triển mới, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư, trật tự an ninh ổn định, hệ thống chính trị luôn được quan tâm kiện toàn đảm bảo chất lượng và năng lực.

Tuy nhiên, Hội nghị cũng nêu lên một số mặt hạn chế trong quá trình thực hiện đó là: Việc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu đầu tư xây dựng cần nguồn lực rất lớn trong khi kinh phí thực hiện còn hạn chế. Sự phối hợp giữa Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện với cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể của xã và các ấp có lúc chưa chặt chẽ, công tác vận động nhân dân trong thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đôi lúc chưa tốt.

Để khắc phục những hạn chế, đưa phong trào đạt những mục tiêu kế hoạch đề ra, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã đưa ra một số giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả phong trào trong giai đoạn tiếp theo (2016-2020) nhằm tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhân dân, tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Ngày 12 tháng 5 năm 2016, Bệnh viện tổ chức Hội nghị biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong “Tiếp tục đẩy mạnh việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2016 theo Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 317 của Thường vụ Quân ủy Trung ương. Đây là việc làm thường xuyên, có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng, tu dưỡng, rèn luyện cán bộ, nhân viên, y, bác sĩ theo đạo đức của Bác và để nhìn nhận, đánh giá thực chất những việc đã làm được, những việc còn hạn chế, từ đó rút ra nguyên nhân và những kinh nghiệm, nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong thời gian tiếp theo.

Thay mặt Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện, Thượng tá Đặng Tiến Phước - Chính ủy Bệnh viện trình bày báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 317 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về“Tiếp tục đẩy mạnh việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong Đảng bộ và toàn Bệnh viện. Hội nghị đã biểu dương, khen thưởng 6 tập thể và 10 cá nhân có thành tích tiêu biểu trong thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Ngày 22 tháng 5 năm 2016, hòa chung không khí tưng bừng của nhân dân cả nước, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Bệnh viện thực hiện quyền công dân của mình đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tại Tổ bầu cử số 14, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, với 397 cử tri đạt tỉ lệ 100%. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ngày 31 tháng 5 năm 2016, Hội Phụ nữ cơ sở Bệnh viện tiến hành Đại hội đại biểu nhiệm kỳ 2016-2021. Đến dự và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Cục Hậu cần Quân khu 9; Thủ trưởng Phòng Chính trị - Cục Hậu cần và các đồng chí trong Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện cùng 80 đại biểu, đại diện cho 215 hội viên của Hội.

Thiếu tá Nguyễn Thị Linh - Chủ tịch Hội Phụ nữ nhiệm kỳ 2011-2016, thay mặt Ban chấp hành Hội trình bày Dự thảo báo cáo kết quả thực hiện phong trào thi đua và các nhiệm vụ trọng tâm của Hội Phụ nữ cơ sở nhiệm kỳ 2011-2016. Dự thảo báo cáo nhấn mạnh: Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Ban chấp hành Hội; Hội Phụ nữ cơ sở đã đoàn kết, khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm quyền lợi cho hội viên, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện. Trong nhiệm kỳ có 21 cán bộ, hội viên được kết nạp vào Đảng, 3 đồng chí là cấp ủy, bí thư chi bộ, 1 đồng chí là đảng ủy viên Bệnh viện, 5 đồng chí là chủ nhiệm khoa; 6 đồng chí hoàn thành chương trình đào tạo chuyên khoa I và đại học. Triển khai thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Phụ nữ Quân đội tích cực học tập, lao động sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc”; “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, duy trì 25 tổ góp vốn không lãi suất với số tiền trên 5 tỷ đồng. Xây dựng Hội Phụ nữ cơ sở vững mạnh, thực hiện tốt 12 điều y đức, 44 chế độ bệnh viện; trong nhiệm kỳ, Hội được Tổng Cục Chính trị tặng 1 bằng khen, Cục Chính trị Quân khu tặng 3 giấy khen.

Phát biểu tại Đại hội, Thượng tá Đặng Tiến Phước - Bí thư Đảng ủy,  Chính ủy Bệnh viện đã biểu dương những thành tích đạt được của Hội Phụ nữ trong nhiệm kỳ qua, từ Ban chấp hành đến từng hội viên luôn đoàn kết, phát huy dân chủ, mở rộng tính liên hiệp, khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo của chị em trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân; đồng thời tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát triển tổ chức Hội vững mạnh, gia đình hạnh phúc, góp phần nâng cao vị thế của Hội, thúc đẩy sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ. Đồng chí Chính ủy yêu cầu Ban chấp hành Hội Phụ nữ cơ sở và toàn thể cán bộ, hội viên cần nỗ lực hơn nữa, đoàn kết thống nhất, nêu cao tinh thần khắc phục mọi khó khăn, không chỉ riêng trong công tác Hội mà cả trong thu xếp công việc gia đình, thực hiện tốt chức năng làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con khỏe, dạy con ngoan, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình để hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn theo chức trách nhiệm vụ được giao. Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các hội viên phát huy hết khả năng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ của phong trào do Hội phụ nữ phát động và nhiệm vụ mà chi ủy, chi bộ, các khoa, ban giao cho, góp phần xây dựng Bệnh viện vững mạnh toàn diện, Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

Đại hội đã nhất trí thông qua kết quả bầu cử Ban chấp hành Hội Phụ nữ cơ sở Bệnh viện nhiệm kỳ 2016-2021 gồm 7 đồng chí, đồng chí Vũ Thị Hà được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Thị Bé Mười làm Phó Chủ tịch và Đại hội bầu đoàn đại biểu dự Đại hội Phụ nữ cấp trên 8 đồng chí.

Năm 2016, Bệnh viện tổ chức đợt làm công tác dân vận khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân xã Hữu Đạo, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Thông qua hoạt động khám bệnh, cấp thuốc miễn phí của đoàn y, bác sĩ Bệnh viện Quân y 120 giúp cho người dân xã Hữu Đạo, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang có điều kiện được khám và phát hiện bệnh để kịp thời chữa trị. Đồng thời thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ của lực lượng vũ trang Quân khu đối với người nghèo trên địa bàn đóng quân, thể hiện tình cảm gắn bó giữa Quân đội với nhân dân.

Thực hiện Chỉ lệnh số 1063/CL-BTM ngày 5 tháng 6 năm 2016 của Tham mưu trưởng Quân khu 9 và Chương trình đào tạo lớp y tá của Bệnh viện Quân y 120 ngày 13 tháng 6 năm 2016 đã được Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu phê duyệt, ngày 17 tháng 6 năm 2016, Bệnh viện và Sư đoàn bộ binh 8 đã tổ chức lễ khai giảng lớp đào tạo y tá năm 2016 cho 213 học viên, tại Sư đoàn bộ binh 8 Quân khu 9. Phát biểu chỉ đạo tại lễ khai giảng, Đại tá Lê Văn Hiền - Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu đã nêu bật tầm quan trọng của công tác quân y trong Quân đội. Đồng chí yêu cầu các chiến sĩ từ các đầu mối của Quân khu tập trung về đây, vì trách nhiệm đối với chính mình, với đơn vị, thầy cô và Quân đội, các học viên cần xác định cho mình động cơ, thái độ đúng đắn trong học tập và rèn luyện, có phương pháp học tập khoa học, rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo; chấp hành nghiêm nội quy đơn vị, không có học viên nào vi phạm kỷ luật, ra sức học tập nâng cao trình độ, y đức, thực hành thành thạo chuyên môn để trở thành y tá giỏi về phục vụ đơn vị. Đồng thời, nhắc nhở đội ngũ giáo viên Bệnh viện chấp hành nghiêm quy chế huấn luyện; cập nhật mới quy trình, chương trình đào tạo, bám sát với thực tế; đảm bảo cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, kỹ thuật hiện đại trong dạy học và quản lý đào tạo đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có đủ trình độ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân.

Về công tác chuyên môn, ngày 13 tháng 7 năm 2016, lần đầu tiên Bệnh viện đã phẫu thuật thành công một bệnh nhân bị bướu giáp nhân thùy bằng phương pháp nội soi. Bệnh nhân là chị Lưu Thị Diễm Hương, sinh năm 1992, thường trú ấp 4, xã Tân Thành, huyện Tân Thạch, tỉnh Long An. Bệnh nhân nhập viện lúc 10 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2016 với chẩn đoán bướu giáp nhân thùy (P) được bác sĩ chỉ định mổ. Ca mổ tiến hành lúc 9 giờ ngày 13 tháng 7 năm 2016 của kíp mổ 6 người gồm 2 bác sĩ là bác sĩ chuyên khoa II - Vũ Đăng Trung và bác sĩ chuyên khoa I - Lê Thanh Môn cùng với 4 kỹ thuật viên. Sau gần 1 giờ ca mổ đã thành công, bệnh nhân được xuất viện về ngay trong ngày. Thành công của ca phẫu thuật nội soi đã thể hiện tay nghề của y, bác sĩ của Bệnh viện được nâng cao, làm chủ các thiết bị y tế hiện đại và đáp ứng được nguyện vọng của bệnh nhân.

Bác sĩ chuyên khoa II - Vũ Đăng Trung - Phó Giám đốc Bệnh viện cho biết thêm: “Phương pháp nội soi tuyến giáp không để lại sẹo, an toàn và giúp bệnh nhân giảm thiểu tai biến, mau chóng phục hồi sức khỏe trở lại cuộc sống bình thường”.

Phương pháp này vừa đơn giản, dễ thực hiện, thời gian mổ ngắn, hiệu quả, an toàn và chi phí rẻ hơn nhiều so với các phương pháp trước, có thể thực hiện ở nhiều cở sở điều trị vì chỉ dùng dụng cụ phẫu thuật nội soi ổ bụng. Chính vì những ưu điểm của phương pháp nội soi mà thế giới cực kỳ ấn tượng với kỹ thuật này và nhiều bệnh nhân đã được điều trị tuyến giáp một cách triệt để và an toàn.

Cho đến nay, phương pháp phẫu thuật bướu giáp bằng phương pháp nội soi không chỉ áp dụng cho phẫu thuật tuyến giáp thông thường như bướu đơn nhân, đa nhân, bệnh basedow mà còn ứng dụng trong phẫu thuật điều trị ung thư tuyến giáp, kể cả cắt toàn bộ tuyến giáp kèm theo nạo vét hạch trong bệnh ung thư. Các biến chứng phẫu thuật cũng giảm đáng kể so với trước kia, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe và trở lại cuộc sống bình thường.

Nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng bảo đảm cho chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, tháng 8 tháng 2016, Bệnh viện tổ chức luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, thực hành cơ động di chuyển một phần lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị ra khu sơ tán. Phát huy năng lực, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, Bệnh viện có nhiều giải pháp linh hoạt, phù hợp với thực tiễn, từng nhiệm vụ, tổ chức bảo đảm hậu cần đầy đủ và kịp thời cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất trong mọi tình huống.

Ngày 29 tháng 9 năm 2016, Bệnh viện triển khai quyết định thành lập Khoa Tim mạch - Thận - Khớp (A2) do bác sĩ Nguyễn Văn Tiếp làm Chủ nhiệm Khoa và Khoa Tiêu hóa - Nội tiết - Huyết học (A7) do bác sĩ Nguyễn Văn Trãi làm Chủ nhiệm Khoa. Đây là hai khoa mới tách ra từ Khoa Nội chung và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 10 năm 2016 nhằm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng khám và điều trị cho bệnh nhân. Phát biểu tại buổi lễ trao quyết định thành lập khoa, Đại tá Phan Hồng Phúc - Giám đốc Bệnh viện đề nghị cán bộ, công nhân viên hai khoa mới phát huy truyền thống Bệnh viện Anh hùng, chăm sóc và điều trị tốt cho bộ đội và nhân dân. Thay mặt Đảng ủy, Thượng tá Đặng Tiến Phước - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bệnh viện chúc mừng và tin tưởng cấp ủy, chi bộ khối Nội tiếp tục phát huy thành tích đã đạt được, lãnh đạo khoa mới đoàn kết thống nhất, xây dựng khoa vững mạnh toàn diện, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao.

Hoạt động nghiên cứu khoa học là lĩnh vực được các y, bác sĩ Bệnh viện luôn chú trọng, đầu tư nghiên cứu. Từ ngày 4 đến ngày 14 tháng 10 năm 2016, Hội đồng Khoa học Bệnh viện đã tổ chức thẩm định, nghiệm thu 6 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở cho các bác sĩ, cử nhân đang làm việc tại Bệnh viện. Các đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu, tổng hợp, thống kê thực tế công tác khám và điều trị bệnh nhân tại Bệnh viện thời gian qua, gồm có: “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh lao phổi mới tại Bệnh viện từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2015” của bác sĩ Nguyễn Thanh Tùng; “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và tình trạng tiền đái tháo đường ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát” của bác sĩ Nguyễn Thành Long; “Đánh giá kết quả khâu treo búi trĩ phụ trong cắt trĩ từng búi” của bác sĩ Trương Xuân Định; “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm phúc mạc ruột thừa” của bác sĩ Lê Thanh Môn; “Đánh giá kết quả điều trị gãy hở độ I độ II thân hai xương cẳng chân bằng đóng đinh nội tủy Sign”; “Đánh giá thực hành rửa tay của nhân viên y tế Bệnh viện Quân y 120 năm 2015” của điều dưỡng Huỳnh Sơn Khương. Tất cả các đề tài đều được Hội đồng Khoa học đánh giá cao, đồng thời cho rằng đây là những đề tài được đầu tư nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị thực tiễn trong việc khám và chữa bệnh tại Bệnh viện Quân y 120.

Đối với công tác chính sách, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện luôn quan tâm thực hiện chính sách hậu phương quân đội, cải thiện đời sống bộ đội và xây dựng đơn vị xanh, sạch, đẹp. Bệnh viện bảo đảm đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên và thân nhân gia đình đúng, đủ, kịp thời. Thường xuyên cử các đoàn y, bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách và nhân dân trên địa bàn. Duy trì thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động: “Xây dựng môi trường văn hóa xanh, sạch, đẹp” trong đơn vị gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn đóng quân. Thường xuyên quan hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, làm tốt công tác dân vận, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tham gia có hiệu quả các chương trình “xóa đói, giảm nghèo”; tích cực hưởng ứng phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”… Thông qua hoạt động giao lưu kết nghĩa, dã ngoại, về nguồn, khám bệnh, giúp dân phòng, chống bão lụt, Bệnh viện đã làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xây dựng tình đoàn kết quân dân ngày càng thêm gắn kết, bền chặt.

Đặc biệt từ giữa năm 2014, thực hiện sự chỉ đạo của trên, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện vận động cán bộ, y, bác sĩ của Bệnh viện ra đảo Thổ Chu để hỗ trợ khám, điều trị cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo. Được sự quan tâm, động viên của lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, y, bác sĩ được cử ra đảo đều phấn khởi nhận nhiệm vụ, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đến cuối năm 2016, Bệnh viện đã cử 3 đợt[16] cán bộ, mỗi đợt có một bác sĩ, một y sĩ và một kỹ thuật viên gây mê ra đảo Thổ Chu, với tấm lòng của người thầy thuốc và kinh nghiệm trong khám, điều trị bệnh, các bác sĩ của Bệnh viện đã kịp thời cứu sống một số ca bệnh nặng nơi đảo xa. Điển hình như:

Khoảng 16 giờ, ngày 9 tháng 12 năm 2016, Bệnh xá Trung đoàn 152 tiếp nhận bệnh nhân Trần Tấn Phong, sinh năm 1974, quê quán thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, là ngư dân. Lúc 4 giờ cùng ngày, bệnh nhân bị tai nạn do té, đập mạng sườn trái vào thành tàu đã được sơ cứu tạm thời rồi chuyển vào Bệnh xá của Trung đoàn. Bệnh nhân vào Bệnh xá trong tình trạng sốc mất máu, da xanh, niêm mạc nhợt, chân tay lạnh, vã mồ hôi… Lúc này, bác sĩ Vũ Tiến Vũ, bác sĩ tăng cường của Bệnh viện Quân y 120 đang trực tại Bệnh xá. Sau khi thăm khám, làm các xét nghiệm, siêu âm chẩn đoán, các bác sĩ chẩn đoán: Bệnh nhân bị chảy máu trong ổ bụng lượng nhiều nghi do vỡ lách giai đoạn tiền sốc (shock), nguy hiểm đến tính mạng. Ngay lập tức, các y, bác sĩ thực hiện hồi sức tích cực, chống sốc, giảm đau, bù khối lượng tuần hoàn, thuốc chống sốc.

Một cuộc hội chẩn khẩn cấp qua kết nối Telemedicine giữa kíp bác sĩ đảo Thổ Chu và các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng thời hội kiến với Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 120, kíp phẫu thuật do bác sĩ Vũ Tiến Vũ làm phẫu thuật viên chính. Với tinh thần nỗ lực, trách nhiệm sau gần 2 giờ ca mổ đã thực hiện thành công. Sáng hôm sau, bệnh nhân hồi phục bước đầu, đến ngày 12 tháng 12 năm 2016, bệnh nhân được phục hồi hoàn toàn.

Với tinh thần trách nhiệm cao trong khi đi công tác, đây không phải là lần đầu các y, bác sĩ của Bệnh viện Quân y 120 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thể hiện bản lĩnh của người thầy thuốc mặc áo lính, tạo thêm lòng tin yêu của bộ đội và nhân dân, giúp các ngư dân yên tâm ra khơi, bám biển, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Bước sang năm 2017, là năm đánh dấu chặng đường 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Bệnh viện. Bệnh viện tiếp tục thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống. Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện lãnh đạo đơn vị tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp trên và cấp mình về thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng năm 2017; trong đó tập trung chỉ đạo các hoạt động kỷ niệm ngày truyền thống của Bệnh viện, như: Phát động các đợt thi đua đột kích, nhằm phát huy tính xung kích sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Tổ chức biên soạn tái bản có bổ sung, chỉnh sửa, viết tiếp giai đoạn từ năm 2007 đến 2017, xuất bản cuốn “Lịch sử Bệnh viện Quân y 120, Cục Hậu cần Quân khu 9 (1977 - 2017)”. Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tuyên truyền giáo dục về truyền thống của Bệnh viện, nhất là những thành tích đặc biệt xuất sắc mà Bệnh viện đã đạt được trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia và thành tích đạt được trong thời kỳ đổi mới; tuyên truyền phẩm chất y đức của người thầy thuốc quân y, những tấm gương “Lương y như từ mẫu”, gương người tốt, việc tốt trong học tập, công tác và nghiên cứu khoa học. Làm phóng sự truyền hình, tuyên truyền hình ảnh truyền thống của Bệnh viện trên các báo đài Quân đội nhân dân, báo Quân khu, báo địa phương; giao lưu truyền thống các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; thi tìm hiểu truyền thống 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Bệnh viện. Tập trung xây dựng, tu sửa các hạng mục công trình doanh trại; xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu kết nghĩa, hoạt động công tác dân vận; thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, cán bộ lão thành của Bệnh viện; tổ chức các đoàn khám bệnh giúp nhân dân ở các khu căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng nông thôn; xây dựng nhà đồng đội tặng cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách. Các hoạt động trên đã khơi dậy cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Bệnh viện lòng tự hào sâu sắc, ý chí quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của từng tập thể, cá nhân, ra sức thi đua lập nhiều thành tích xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

*

*             *

Trong những năm từ 1990 đến 2017, sau khi kết thúc nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, được Quân khu giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang khu vực sông Tiền và điều trị cho nhân dân thu một phần viện phí. Mặc dù thời gian đầu nhà cửa, phòng bệnh nhân xuống cấp trầm trọng, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chuyên môn cũ kỹ, lạc hậu; đội ngũ chuyên môn trình độ, khả năng không đồng đều... Nhưng với ý chí tự lực tự cường, tập thể Đảng ủy, Ban Giám đốc và cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện Quân y 120 đã đoàn kết, gắn bó, vượt qua mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hàng trăm ngàn lượt bệnh nhân đã được Bệnh viện khám và điều trị; nhiều ca bệnh hiểm nghèo đã được y, bác sĩ Bệnh viện cứu sống; hàng trăm triệu đồng tiền thuốc của Bệnh viện đã đến được với đồng bào nghèo, các gia đình chính sách ở vùng sâu, vùng xa, vùng kháng chiến cũ. Nhiều tập thể và cá nhân đã lập được thành tích xuất sắc, được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tặng Bằng khen và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Những thành tích, kết quả đạt được trong thời gian qua đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của tập thể cán bộ, công nhân viên Bệnh viện Quân y 120. Đó là hành trang và là nguồn động viên, cổ vũ to lớn để Bệnh viện Quân y 120 vững bước đi lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân giao phó trong thời kỳ cách mạng mới.

 

 

 

KẾT LUẬN

 

Bệnh viện Quân y 120 ra đời trong hoàn cảnh đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nhất của thế kỷ XX. Hòa bình lập lại, cả nước đang chung tay thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng: “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, thì tình hình biên giới Tây Nam ngày càng phức tạp, chủ quyền đất nước ta bị đe dọa nghiêm trọng, do tập đoàn Pôn Pốt- Iêng Xari ở Campuchia gây ra.

Để đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới, ngày 30 tháng 4 năm 1977, theo quyết định của Tư lệnh Quân khu, Viện Quân y 120 được thành lập. Khi cán bộ, y, bác sĩ và lực lượng công nhân viên phục vụ đang tập trung nỗ lực cao nhất để ổn định tổ chức biên chế, củng cố nơi ăn, chốn ở, nhất là cơ sở nuôi dưỡng, khám và điều trị thương binh, bệnh binh thì Viện đã phải nhanh chóng tổ chức các đội phẫu thuật lên đường cứu chữa thương binh phục vụ cho cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc của lực lượng vũ trang Quân khu (1977-1978).

 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, người lính quân y Quân khu nói chung và người lính quân y tiền thân của Viện Quân y 120 nói riêng rất vui mừng, hạnh phúc sau ngày chiến thắng được trở về với bao niềm ước vọng có dịp tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu tốt hơn, vừa xây dựng Viện chính quy trong thời bình, vừa lo toan gia đình, ổn định hậu phương vững chắc...

Song tất cả mọi dự định, ý muốn của người lính quân y đều phải gác lại để tập trung cho nhiệm vụ phục vụ chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu. Tất cả 100% cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ trong các đội phẫu thuật của Viện đều tình nguyện lên đường ra phía trước phục vụ bộ đội với sự nhiệt tình và trách nhiệm cao nhất. Gác lại tất cả những dự định riêng về gia đình, hậu phương, về sức khỏe, về tương lai... các cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Viện ở các đội điều trị cơ động chiến đấu đã có mặt phục vụ kịp thời phục vụ cho lực lượng vũ trang Quân khu đánh địch ở địa bàn Châu Đốc (An Giang), Kiên Lương (Kiên Giang), góp phần cùng lực lượng vũ trang Quân khu giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam.

Suốt 10 năm lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu giúp bạn Campuchia (1979 - 1989), hàng trăm cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ của Viện đã rời hậu phương lên đường tham gia các đội điều trị, bổ sung cho  Viện Quân y 122, Mặt trận 979, các cơ sở y tế tiền phương, theo chân bộ đội ra tận biên giới Campuchia - Thái Lan. Các chiến sĩ quân y của Viện ngày đêm vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khổ, bám sát chiến trường, trực tiếp cứu, chữa thương binh, bệnh binh trong lực lượng vũ trang ta và Bạn; khám, điều trị, cứu chữa cho nhân dân Campuchia, đóng góp một phần công sức cùng với lực lượng vũ trang Quân khu giúp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị.

Sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế vẻ vang (năm 1990), cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Viện đã đoàn kết, chung sức chung lòng vượt qua khó khăn, xây dựng Viện ngày càng vững mạnh, góp một phần công sức, trí tuệ, tài năng chuyên môn vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Hai mươi bảy năm (1990 - 2017), thực hiện tiến trình đổi mới toàn diện, Bệnh viện đã đạt nhiều thành tích xuất sắc, đã từng bước nâng cao uy tín, vị thế của Bệnh viện lên một bước mới. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh, Bệnh viện vừa chăm lo phát triển đội ngũ y, bác sĩ cả về số lượng và chất lượng, đồng thời tích cực giáo dục, bồi dưỡng y đức của người thầy thuốc quân y, mạnh dạn mở rộng các loại hình đào tạo; bố trí một số lượng khá lớn cán bộ, y, bác sĩ đi học ở các trường trong và ngoài Quân đội để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ (đến năm 2016, Bệnh viện đã có 6 bác sĩ chuyên khoa II, 19 bác sĩ chuyên khoa I và 18 bác sĩ đa khoa và 3 thạc sĩ). Bệnh viện không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng kinh nghiệm thực tiễn và khoa học y học hiện đại vào điều trị bệnh nhân. Tranh thủ sự chi viện giúp đỡ về mọi mặt của Quân khu và Cục Hậu cần, Bệnh viện tập trung mọi nguồn lực đổi mới trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản tạo điều kiện vật chất, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị. Thực hiện đổi mới công tác dân vận của Đảng, Bệnh viện đã tích cực tham gia khám, chữa bệnh cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ, góp phần quan trọng xây dựng tình cảm quân, dân đoàn kết, xây dựng củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với lực lượng vũ trang Quân khu; tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng vững chắc trận địa lòng dân, góp phần thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng trên địa bàn[17].

Trong lịch sử ra đời, xây dựng, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và trưởng thành 40 năm qua của Bệnh viện Quân y 120 (1977-2017), dù phải vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ và có lúc gặp khó khăn thử thách khắc nghiệt như trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1977 - 1978), 10 năm chiến đấu giúp bạn Campuchia (1979 - 1989), nhưng phát huy truyền thống vẻ vang của lực lượng quân y miền Trung Nam Bộ nói chung và quân y Quân khu 9 nói riêng, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện trong các thời kỳ luôn quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên môn bảo đảm cho Bệnh viện phát triển, trưởng thành về mọi mặt. Bệnh viện đã được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Bộ Quốc phòng tặng Cờ dẫn đầu phong trào Thi đua quyết thắng năm 2014, 1 Bằng khen; Quân khu tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào Thi đua quyết thắng 5 năm liền (2009-2014). 18 bác sĩ được phong tặng Thầy thuốc Ưu tú. Cùng với nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Bộ Y tế, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 và Ủy ban nhân dân các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp khen tặng. Với thành tích đặc biệt xuất sắc, Bệnh viện Quân y 120 đã được Chủ tịch nước tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. 

Bệnh viện đạt được những thành quả trên là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng ủy - Ban Chủ nhiệm Cục Hậu cần và cơ quan Quân y Quân khu. Đặc biệt được sống, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng trong sự chăm lo, nuôi dưỡng, giúp đỡ, tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trải qua 40 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên Bệnh viện Quân y 120 đã xây dựng nên truyền thống vẻ vang với 16 chữ vàng “Nêu cao y đức, tự lực sáng tạo, đoàn kết quân dân, kiên cường quyết thắng”. Những thành tích, chiến công của Bệnh viện đạt được và cả những mặt còn hạn chế trong 40 năm qua, Bệnh viện Quân y 120 rút ra một số bài học kinh nghiệm cơ bản, quan trọng đó là:

1. Thường xuyên chăm lo xây dựng, rèn luyện y đức của người thầy thuốc cho đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện.

Sinh thời Hồ Chủ Tịch có lời dạy vô cùng quý giá với ngành Y: “Lương y như từ mẫu - Thầy thuốc như mẹ hiền”. Đặt người thầy thuốc vào vị trí cao đẹp ấy, Bác không chỉ nhằm làm rõ vai trò, vị trí người thầy thuốc dưới chế độ mới, mà Bác còn nhắc nhở, đòi hỏi người thầy thuốc phải có tài năng, chuyên môn giỏi, song yêu cầu cao hơn, quý hơn ở người thầy thuốc là phải có tâm, có đức, lấy y đức làm trọng. Đặc biệt, đối với người thầy thuốc chiến sĩ, tiêu chí y đức có một vai trò, vị trí vô cùng quan trọng, vì cứu chữa cho đồng đội, cứu chữa trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt, có nét đặc thù riêng.

Từ kinh nghiệm xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện cũng hiểu rõ trong mỗi giai đoạn phát triển, khi phục vụ ở chiến trường, hay ở hậu phương cùng với việc chăm lo, bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo, tổng kết, rút kinh nghiệm để nâng cao năng lực chuyên môn, thường xuyên quan tâm giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, y đức cho người thầy thuốc, coi đó là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người trong Bệnh viện. Đặc biệt, trong cơ chế thị trường, để hạn chế mặt tiêu cực lôi kéo, tác động, làm suy giảm y đức của người thầy thuốc, Bệnh viện đã triển khai nhiều giải pháp về tổ chức, quản lý hành chính, về gắn lợi ích vật chất, tinh thần hài hòa chung riêng để tạo điều kiện cho mọi người được cống hiến và có thu nhập phù hợp, nhằm giữ vững y đức cho đội ngũ thầy thuốc.

Chính vì vậy, suốt quá trình xây dựng Bệnh viện, đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ của Bệnh viện luôn có thái độ, tinh thần phục vụ tốt với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân trên địa bàn. Giữ vững phẩm chất, hình ảnh đẹp của người chiến sĩ quân y trong kháng chiến vẫn sáng mãi trong cơ chế thị trường.

Đây cũng là nhân tố cơ bản quyết định uy tín, vị thế của Bệnh viện Quân y 120 trong nhiều năm qua, là nguồn gốc sức mạnh của Bệnh viện trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

2. Chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát huy truyền thống chủ động sáng tạo, tự lực tự cường của lực lượng quân y Quân khu 8, Quân khu 9 (tiền thân của Bệnh viên) trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngay từ khi mới ra đời, quá trình phục vụ chiến đấu, phát triển và trưởng thành, ở giai đoạn nào, Bệnh viện Quân y 120 cũng gặp rất nhiều khó khăn thử thách khắc nghiệt. Một trong những khó khăn thử thách đó là về trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn nhân lực đội ngũ y, bác sĩ và năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn thiếu, lạc hậu trước yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn.

Khi mới thành lập, trang bị máy móc, các phương tiện kỹ thuật cũ kỹ, lạc hậu, thiếu đồng bộ; nhà cửa, doanh trại tiếp nhận từ một căn cứ trại lính ngụy cũ xuống cấp một cách nghiêm trọng. Trong khi đó, đội ngũ bác sĩ có trình độ cao (chuyên khoa các cấp) chưa có, lực lượng công nhân viên phục vụ hơn 1/4 chưa qua đào tạo. Bên cạnh đó, Bệnh viện phải cử một lực lượng y, bác sĩ thành lập các đội điều trị phục vụ cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu ở biên giới Tây Nam (1977-1978). Số lượng thương binh, bệnh binh suốt các giai đoạn từ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, đến 10 năm chiến đấu giúp bạn Campuchia, lúc nào cũng quá tải. Tuy nhiên, Ban Giám đốc Bệnh viện cùng đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên phục vụ đã xây dựng tinh thần khắc phục khó khăn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, không trông chờ, ỷ lại. Khai thác có hiệu quả sự chi viện, giúp đỡ của cơ quan cấp trên và các đơn vị bạn. Một mặt tổ chức sắp xếp lại lực lượng hợp lý, khoa học, mặt khác tích cực bố trí cán bộ, y, bác sĩ đi học theo các hướng; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, rút kinh nghiệm tại chỗ ở từng khoa, ban sau từng ca điều trị, phẫu thuật, hội chẩn...

Với quyết tâm và cách làm đó, Bệnh viện đã từng bước khắc phục khó khăn bài toán nhân lực và sự non kém về chuyên môn nghiệp vụ. Năng lực, chất lượng nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh ngày càng nâng lên, hiệu quả hơn, uy tín, vị thế của Bệnh viện ngày càng được củng cố, đáp ứng yêu cầu của một bệnh viện tuyến cuối loại B cấp Quân khu, hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân khu giao.

3. Không ngừng vươn lên trong nghiên cứu khoa học, phát huy tốt việc kết hợp y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại.

Khi Bệnh viện mới được thành lập, đội ngũ y, bác sĩ được đào tạo chính quy chiếm tỷ lệ thấp, phần lớn được đào tạo qua thực tiễn trong chiến tranh, kinh nghiệm điều trị thực tiễn rất phong phú, nhưng khả năng nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thông tin y học hiện đại có nhiều khó khăn.

Để giải quyết vấn đề này, cùng với việc cấp trên tăng cường, bổ sung đội ngũ y, bác sĩ được đào tạo cơ bản ở các học viện, nhà trường và số bác sĩ đi học nâng cao trở về. Hằng năm, Ban Giám đốc Bệnh viện trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm chuyên môn, gợi mở động viên các khoa, ban tìm tòi sáng tạo, đề xuất những ý tưởng khoa học trong quá trình nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh, hoặc đề xuất công tác tham mưu quân y... Những ý tưởng, kinh nghiệm đó được xây dựng thành đề tài khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao.

Bốn mươi năm qua, lực lượng y, bác sĩ của Bệnh viện đã đầu tư nghiên cứu thành công hơn 100 đề tài các cấp, trong đó có hàng chục đề tài được báo cáo tại các hội nghị khoa học kỹ thuật quân, dân y Đồng bằng sông Cửu Long. Phần lớn các đề tài của Bệnh viện có giá trị thực tiễn cao, khi được nghiệm thu, nhanh chóng triển khai áp dụng vào công tác khám và điều trị thương binh, bệnh binh đều đạt kết quả tốt. Từ lực lượng nghiên cứu khoa học, nhiều y, bác sĩ đã trưởng thành, trong đó có 18 bác sĩ của Bệnh viện được Bộ Y tế tặng danh hiệu cao quý “Thầy thuốc Ưu tú”, số bác sĩ chuyên khoa các cấp ngày càng nhiều.

Chính từ việc kết hợp nuôi dưỡng, điều trị bệnh với đầu tư nghiên cứu khoa học, Bệnh viện có sự phát triển trưởng thành vững chắc về chuyên môn, đủ sức giải quyết một số ca bệnh nặng, kịp thời cứu sống nhiều bệnh nhân. Sự vươn lên trong đầu tư nghiên cứu khoa học là điều đáng ghi nhận của Bệnh viện. Đặc biệt, năm 2016 Bệnh viện lần đầu tiên thành công phẫu thuật bướu giáp bằng phương pháp nội soi, giảm biến chứng sau phẫu thuật, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe và trở lại cuộc sống bình thường.

4. Thường xuyên xây dựng tốt mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể địa phương và nhân dân trên địa bàn đóng quân.

Gắn bó máu thịt với nhân dân không chỉ là bản chất, truyền thống, mà còn là cội nguồn sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Phát huy cao độ phương thức “quân y nhân dân”, các đơn vị tiền thân của Bệnh viện Quân y 120 trong những thời kỳ chiến tranh ác liệt đã thực hiện triệt để phương châm “Nhà dân là trại bệnh, xuồng dân là phòng mổ, hầm bí mật là chỗ nương thân, hộ lý nấu ăn nhờ dân phần lớn”, xem việc xây dựng tình cảm quan hệ đoàn kết quân, dân “cá - nước” có ý nghĩa sống còn.

Vì vậy hằng chục năm qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện không chỉ xây dựng, phát huy tốt lực lượng quân y nhân dân, thường xuyên xây dựng củng cố mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp…, mà hằng năm, Bệnh viện đều cử các đội công tác đi khám, chữa bệnh cho nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ. Tổ chức khám, chữa bệnh cho dân có thu một phần viện phí theo tinh thần phục vụ là chính, miễn giảm viện phí cho từng đối tượng chính sách và bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn. Sẵn sàng giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai bão lũ. Hằng năm, Bệnh viện vận động cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên đóng góp xây dựng quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, hỗ trợ địa phương xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình đồng đội. Trong khám, điều trị bệnh, bằng tinh thần phục vụ tận tình, chu đáo; đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên Bệnh viện đã góp phần củng cố tình cảm, lòng tin của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương nơi Bệnh viện đóng quân. Sự phát triển, lớn mạnh của Bệnh viện qua các giai đoạn gắn liền với sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn đóng quân.

5. Không ngừng đổi mới hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Bệnh viện vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Nhận thức sâu sắc những nguyên tắc hoạt động công tác đảng, công tác chính trị và tổ chức thực hiện tốt là một yêu cầu rất cơ bản, thường xuyên của mỗi đơn vị và cơ quan. Ở đâu, làm gì, có bộ đội, có lực lượng vũ trang là có hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Vai trò, vị trí của sức mạnh đoàn kết, yếu tố sức mạnh chính trị tinh thần có được đều bắt nguồn từ hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị.

Thực tiễn 40 năm qua, lãnh đạo, chỉ huy Bệnh viện thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị, mà nội dung tập trung chủ yếu là xây dựng hệ thống tổ chức đảng có năng lực và sức chiến đấu cao, đủ năng lực uy tín lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là giai đoạn khó khăn thử thách lớn. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xác định rõ nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm cao cho từng đơn vị (khoa, ban) đến mỗi cá nhân, trong đó phát huy vai trò hoạt động của các tổ chức quần chúng Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn... làm nòng cốt thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trên cơ sở nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ và các phương thức hoạt động, Đảng ủy, Ban Giám đốc tích cực tìm tòi đổi mới, ủng hộ, khuyến khích các khoa, ban đổi mới phương thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm ngày càng tiến bộ có chất lượng và hiệu quả hơn.

Với nhận thức, kinh nghiệm và những bài học trong cách lãnh đạo, chỉ huy nhiều năm qua của Đảng ủy, Ban Giám đốc đã duy trì tình hình chất lượng chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, công nhân viên của Bệnh viện luôn ổn định, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân được phát huy tốt. Đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn phát huy vai trò tiền phong gương mẫu, các tổ chức quần chúng được chăm lo, phát huy tốt về mọi mặt. Đây là một trong những nhân tố cơ bản tạo điều kiện cho Bệnh viện phát triển ổn định và không ngừng vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.

Bốn mươi năm phấn đấu đầy gian khổ, hy sinh, gắn liền với các nhiệm vụ chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy của Bệnh viện đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, bình tĩnh, tự tin và trách nhiệm chính trị cao, chủ động sáng tạo, vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trong từng giai đoạn. Bằng mồ hôi, công sức, xương máu của mình, lớp lớp các thế hệ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Bệnh viện vững mạnh toàn diện, tô thắm truyền thống vẻ vang của Bệnh viện Quân y 120 anh hùng.

Với thành tích và chiến công mà các thế hệ cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên của Bệnh viện lập nên trong suốt 40 năm qua mãi là nguồn sức mạnh to lớn giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau tiếp thu, xây dựng Bệnh viện trưởng thành, phát triển về mọi mặt, đủ sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

 

 

PHỤ LỤC

 

Phụ lục 1

NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

 

I. DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

 Ngày 22 tháng 2 năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 211/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Viện Quân y 120, Cục Hậu cần Quân khu 9 vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

II. HUÂN CHƯƠNG

1. Tập thể:

 - Ngày 22 tháng 8 năm 1987, Viện Quân y 120, Cục Hậu cần Quân khu 9 được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế vẻ vang giúp Campuchia (1977- 1989).

- Năm1989, Viện Quân y 120, Cục Hậu cần Quân khu 9 được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tặng Huân chương Quân công hạng Nhì vì đã có thành tích xuất sắc 10 năm chiến đấu giúp bạn Campuchia.  

2. Cá nhân:

 Bác sĩ Lê Tấn Bình

- Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, vì có nhiều sáng kiến và hiệu quả phục vụ điều trị cứu chữa thương binh, bệnh binh (1965-1969).

III. CỜ, BẰNG KHEN

1. Cờ thưởng

- Cờ thưởng của Quân ủy Trung ương tặng Đảng bộ Bệnh viện đạt trong sạch vững mạnh 5 năm liền (2005-2010).

- Cờ thưởng của Bộ Quốc phòng tặng Bệnh viện dẫn đầu phong trào thi đua Quyết thắng năm 2014.

- Cờ thưởng của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 tặng Bệnh viện dẫn đầu phong trào Thi đua quyết thắng 5 năm liền (2009-2014)

2. Bằng khen

- Bằng khen của Chính phủ tặng Bệnh viện vì có thành tích thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ và hậu phương Quân đội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (năm 2007).

- Bằng khen của Bộ Quốc phòng tặng Bệnh viện vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện công tác chính sách hậu phương Quân đội và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” giai đoạn 1994-2004 (năm 2004).

- Bằng khen của Bộ Quốc phòng tặng tập thể Bệnh viện vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ góp phần xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc (năm 2007).

- Bằng khen của Bộ trưởng - Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương tặng Bệnh viện vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống lụt bão (năm 2006).

- Bằng khen của Bộ Y tế tặng Bệnh viện vì đã có nhiều thành tích trong thực hiện Chương trình “kết hợp quân, dân y” 10 năm (1991-2001) (năm 2002).

- Bằng khen của Tổng cục Hậu cần tặng Bệnh viện trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” giai đoạn (2007 - 2009).

- Bằng khen của Tổng cục Hậu cần tặng Bệnh viện trong Hội thao Điều dưỡng Bệnh viện toàn quân lần thứ Nhất (năm 2006).

- Bằng khen của Tổng cục Hậu cần tặng Bệnh viện trong Hội thao Điều dưỡng y học cổ truyền toàn quân lần thứ Nhất (năm 2006).

- 6 Bằng khen của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 tặng Bệnh viện trong thời gian 2010 - 2015 vì đã hoàn hành xuất sắc nhiệm vụ trong 6 năm.

- 2 Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp tặng (2000, 2014) vì có thành tích trong phòng, chống lũ lụt, khám, chữa bệnh cho nhân dân.

- Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang tặng vì đã có nhiều thành tích đóng góp quỹ “đền ơn đáp nghĩa” tỉnh Tiền Giang (năm 2007).

- 2 Bằng khen của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang tặng (2004, 2014) vì có thành tích trong phòng , chống bão lụt, khám, chữa bệnh cho nhân dân.

- 3 Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tặng (2005, 2006, 2007) vì có thành tích trong phòng , chống bão lụt, khám, chữa bệnh cho nhân dân.

 

 

 

Phụ lục 2
NHỮNG BÁC SĨ ĐƯỢC BỘ Y TẾ TẶNG
DANH HIỆU “THẦY THUỐC ƯU TÚ”

 

TT

HỌ TÊN

NĂM NHẬN

  1.  

Bác sĩ Phan Minh Hùng

1998

  1.  

Bác sĩ Trần Đình Thăng

2000

  1.  

Bác sĩ Vũ Viết Điến

2000

  1.  

Bác sĩ Cao Thị Tiến

2000

  1.  

Bác sĩ Hồng Nhật Hùng

2003

  1.  

Bác sĩ Trương Hồng Thái

2003

  1.  

Bác sĩ Nguyễn Trọng Sinh

2003

  1.  

Bác sĩ Lê Duy Thụ

2005

  1.  

Bác sĩ Võ Ngọc Nuôi

2005

  1.  

Bác sĩ Bùi Ngọc Thụ

2005

  1.  

Bác sĩ Phan Hồng Phúc

2010

  1.  

Bác sĩ Nguyễn Xuân Sách

2010

  1.  

Bác sĩ  Phạm Văn Hoàng

2010

  1.  

Bác sĩ Nguyễn Đình Phước

2012

  1.  

Bác sĩ Trịnh Thị Sứ

2012

  1.  

Bác sĩ Thiều Sỹ Mậu

2013

  1.  

Bác sĩ Lê Mạnh Cường

2014

  1.  

Bác sĩ Đoàn Văn Tiếp

2014

 

 

 

Phụ lục 3

CÁC ĐỒNG CHÍ TRONG BAN GIÁM ĐỐC

BỆNH VIỆN QUÂN Y 120, CỤC HẬU CẦN QUÂN KHU 9

(1977 - 2017)

 

I. VIỆN TRƯỞNG, GIÁM ĐỐC

TT

Họ và tên

Chức vụ

Thời gian

Ghi chú

1

Huỳnh Văn Sổ

(Hai Sổ)

Viện trưởng

4.1977 - 1978

 

2

Trần Văn Lư

(Ba Lư)

Viện trưởng

1978 - 1984

 

3

Trần Phát Đạt

(Ba Đạt)

Viện trưởng

 

1984 - 10.1986

 

4

Trương Minh Châu

(Năm Châu)

Viện trưởng

10.1986 - 7.1991

 

5

Phan Minh Hùng

(Bảy Hùng)

Giám đốc

7.1991 - 8.2000

Từ năm 1991 chức Viện trưởng đổi thành Giám đốc bệnh viện

6

Hồng Nhật Hùng

Giám đốc

8.2000 - 6.2008

 

7

Trần Đình Thăng

Giám đốc

7.2008 - 3.2013

 

8

Phan Hồng Phúc

Giám đốc

3.2013 …Nay

 

 

II. CHÍNH ỦY, VIỆN PHÓ VỀ CHÍNH TRỊ

TT

Họ và tên

Chức vụ

Thời gian

Ghi chú

1

Trần Văn Dược

(Tư Dược)

Chính ủy

4.1977 - 1978

 

2

Trần Trung Hiếu

(Hai Hiếu)

Chính ủy

Viện phó về Chính trị

 

1978 - 1981

1981 - 1984

 

 

Từ ngày 30.9.1980 Chính ủy Bệnh viện được gọi là Viện Phó về Chính trị

3

Ngô Văn Bé Ba

Viện phó về Chính trị

1984 - cuối 1995

 

 

4

Lý Đình Tình

Phó Giám đốc về Chính trị

Cuối 1995 - 9-1999

 

5

Lê Tấn Luật

Phó Giám đốc về Chính trị

Chính ủy

9.1999 - 7.2007

 

11.2009 - 3.2014

 

6

Đặng Hữu Sự

Chính ủy

7.2007 - 11.2009

 

6

Đặng Tiến Phước

Chính ủy

3.2014… Nay

 

 

III. PHÓ CHÍNH ỦY , VIỆN PHÓ, PHÓ GIÁM ĐỐC

TT

Họ và tên

Chức vụ

Thời gian

Ghi chú

1

Trần Phát Đạt

(Ba Đạt)

Viện phó phụ trách Y vụ

 

4.1977 - 1984

 

Viện trưởng từ 1984 đến  10.1986

2

Trần Quốc Thống

Phó Chính ủy

4 - 1977

 

3

Trịnh Văn Ngoan

(Bảy Bụng)

Phó Chính ủy

4.1977 - 1978

 

4

Bùi Văn Chạch

(Ba Chạch)

Viện phó

4.1977 - 1979

 

5

Phạm Sĩ Phu

(Tư Phu)

Viện phó

4.1977 - 1978

 

6

Phạm Văn Khởi

(Ba Khởi)

Viện phó phụ trách Nội khoa

4.1977 - 1984

 

9

Nguyễn Khắc Nhường

Viện phó phụ trách Ngoại khoa

1978 - 1991

 

7

Trương Minh Châu

(Năm Châu)

Viện phó

 

1981 - 9.1986

 

Viện trưởng từ 10.1986 đến 7.1991

8

Đỗ Hoàng Minh

Viện phó

1981 -  11.1991

 

10

Nguyễn Văn Quyên

(Năm Quyên)

Viện phó về Hậu cần

1984 - 1988

 

11

Đặng Thế Khởi

(Sáu Khởi)

Viện phó

1984 - 11.1991

 

12

Phan Minh Hùng

(Bảy Hùng)

Viện phó Ngoại

 

1990 - 7.1991

 

Làm Viện trưởng từ 8.1991 đến năm 2000

13

Bùi Anh Dũng

Viện phó về Hậu cần

Phó Giám đốc về Hậu cần

1990 - 1991

1991 -  cuối 1994

Cuối 1994 không còn chức danh Phó Giám đốc về Hậu cần

14

Trần Đình Thăng

Phó Giám đốc Nội

 

11.1991 - 2008

 

Giám đốc từ 7.2008 đến  3.2013

15

Vũ Viết Điến

Phó Giám đốc Ngoại

11.1991 - quý II năm 2000

 

17

Nguyễn Phạm Trung

Phó Giám đốc

1.2000 - 6.2000

 

16

Phạm Kiến Hòa

Phó Giám đốc

6.2000 - cuối 2003

 

18

Nguyễn Trọng Sinh

Phó Giám đốc Ngoại

Cuối 2003 - 11.2013

 

19

Trương Hồng Thái

Phó Giám đốc Y vụ

2005 - 6-2014

 

20

Lê Mạnh Cường

Phó Giám đốc Nội

11.2012 … Nay

 

20

Nguyễn Tấn Phong

Phó Giám đốc Ngoại

9.2013 - 12.2014

 

21

Lương Vĩnh Khánh

Phó Giám đốc Y vụ

6.2014…Nay

 

22

Vũ Đăng Trung

Phó Giám đốc Ngoại

12.2014 …Nay

 

 

MỤC LỤC

 

 

Lời giới thiệu           

 

 

Lời nói đầu

 

 

Chương một:

Các đơn vị tiền thân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự ra đời của Viện Quân y 120

I. Một số nét về địa lý, xã hội, nhân văn quân sự của miền Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ)

II. Các đơn vị tiền thân, Bối cảnh và sự ra đời của Viện Quân y 120

 

Chương hai:

Viện Quân y 120 thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn Quân khu và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia (4.1977 - 12.1989)

I. Ổn định tổ chức biên chế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

II. Xây dựng Viện trưởng thành vững mạnh, góp phần phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia (1977 - 1989)

 

Chương ba:

Bệnh viện Quân y 120 trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và  bảo vệ Tổ quốc (1990 - 2017)

I. Ổn định tổ chức biên chế và nhiệm vụ mới của Bệnh viện sau khi lực lượng vũ trang Quân khu kết thúc nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia (1990 - 1995)

II. Vượt qua khó khăn, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Bệnh viện vững mạnh toàn diện (1996 - 2007)

III. Tiếp tục đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, xây dựng Bệnh viện ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới ( 2007 - 2017)

 

Kết luận

 

 

Phụ lục

 

 

 

   
     

 

Chú thích:

[1]. Ngày nay được đổi tên là Bệnh viện Quân y 120

[2] . Tư liệu Phòng Quân y Quân khu, tr.186.

 

[3] . Thời gian này các trung đoàn gọi là chiến đoàn.

[4].  Bác sĩ Lê Tấn Bình có đề tài “Khâu vết thương gan cải tiến”, báo cáo tại Hội nghị Quân y Miền năm 1967 và được in thành tài liệu giáo khoa giảng dạy ở các lớp đào tạo bác sĩ của Miền (Tư liệu Phòng Quân y Quân khu 9, tr.173).

[5] . Năm 1968-1969, anh em quân y bị thương, hy sinh, bị địch bắt cũng nhiều nhưng chưa có đồng chí nào đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Đồng chí Bảy Nhãn - Đội phó X27 cùng vợ hy sinh ở Ba Thu; năm 1967 y sĩ Ba Minh hy sinh ở vàm Kênh 9 - Hội Cư; bác sĩ Hai Mai - Đội trưởng đội phẫu X28 hy sinh năm 1968; đồng chí Bảy Nhã hy sinh năm 1967. Lịch sử Quân khu 8, tr.663.

[6], 2. Lịch sử Quân khu 8, tr.753, 757.

[7] . Lịch sử Quân khu 8, tr.757 (bỏ vì đã gộp lên trên)

[8] . Trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Tổ quốc, trên địa bàn Quân khu 9, tập đoàn phản động Pôn Pốt đã nhiều lần đưa quân tràn qua biên giới gây thảm họa cho đồng bào ta, trong đó có những vụ thảm sát điển hình:

- Ngày 5.5.1975, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đã cho quân xâm lấn nhiều khu vực khác nhau thuộc lãnh thổ của ta trên tuyến biên giới Tây Nam, đánh chiếm đảo Thổ Chu, đảo Bô-lô-vai, đảo Phú Quốc, bắt đi 600 dân thường, đánh thăm dò quần đảo Nam Du, nhổ cột mốc biên giới, phá rào, đưa quân xâm canh, xâm cư lãnh thổ ta. Từ 30.4.1975 đến 30.4.1977 chúng đã gây ra hơn 400 vụ trên địa bàn Quân khu 9 (Lịch sử Cục Chính trị Quân khu 9, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr. 207, 231.).

- Đêm 30.4.1977, Pôn Pốt đã đồng loạt tấn công trên tuyến biên giới An Giang với chiều dài 98km, đánh vào 13 đồn biên phòng và 14 xã, làm 237 người chết, 599 người bị thương, đốt phá 1.044 nhà và 6.700 giạ lúa. Đánh giá về hành động tội ác của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, chỉ thị của Cục Chính trị Quân khu 9 ngày 9.5.1977 về “Công tác chính trị trong hiệp đồng binh chủng trên biên giới An Giang” viết: “... Đây là một cuộc thảm sát lớn cực kỳ tàn bạo, rất dã man, một hành động thù địch, một tội ác chưa từng có trong lịch sử quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia từ trước đến nay...” (Lịch sử Cục Chính trị Quân khu 9, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr. 207, 231.).

- Đêm 20.4.1978, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đã bất ngờ tiến công đánh vào xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, giết hại dã man 2.022 người, bắt đi 2.000 người về bên kia biên giới, đốt phá hàng ngàn ngôi nhà, trường học, đóng nhiều chốt trên đất ta dọc biên giới (Lịch sử Cục Chính trị Quân khu 9, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr. 239, 240.).

[9]. Tuyên bố của Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 2.12.1978.

 

[10] . Trước là Chính ủy, nay theo Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15.12.1982 “Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy trong Quân đội” chuyển sang  chức danh Viện phó về Chính trị.

[11] . Từ năm 1979 - 1984 lần lượt các đồng chí: Hai Hùng, Trần Văn Tuấn, Bùi Ngọc Em, Phạm Tương Lai, Phạm Văn Khởi, Trần Phát Đạt, Út Tâm đều trở về Viện Quân y 120. Đồng chí Bùi Ngọc Em nghỉ hưu năm 1980, Phạm Văn Khởi sau chuyển ngành về Sở Y tế Bến Tre, Trần Phát Đạt giữ lại chức Viện phó, năm 1986 được bổ nhiệm  làm Viện trưởng.

[12] . Báo cáo kết quả kiểm tra chéo Bệnh viện  Quân y 120 ngày 25.1.1994

[13] . Chương trình y tế quốc gia số 12 “kết hợp quân, dân y xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân” được triển khai từ năm 1991.

 

[14]. Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 20.7.2005  “ Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.

 

[15]. Do bác sĩ Antonia Longo (Italia) thực hiện năm 1993: Phẫu thuật điều trị trĩ bằng cắt khoanh niêm mạc trên đường lược khoảng 4cm và khâu nội bằng máy nối (Stayler). Phương pháp này có nhiều ưu điểm nhưng chi phí phẫu thuật cao.

 

[16]. Đợt 1, từ tháng 6 đến tháng 12.2014 có: Thiếu tá bác sĩ Lê Mộng Truyền; y sĩ Thái Nguyên Long  và kỹ thuật viên gây mê Lê Quốc Trung. Đợt 2, từ tháng 6 đến tháng 12.2015 có: Đại úy, bác sĩ Trương Xuân Định; y sĩ Đào Đức Dương và kỹ thuật viên gây mê Nguyễn Văn Tùng. Đợt 3, từ tháng 6 đến tháng 12.2016 có: Đại úy, bác sĩ Vũ Tiến Vũ; y sĩ Nguyễn Văn Dũng và kỹ thuật viên gây mê Nguyễn Hoàng Khương.

[17] . Bệnh viện đã nhận phụng dưỡng suốt đời 1 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay đã từ trần). Xây 8 căn nhà tình thương trị giá: 160.000.000 đồng; 10 căn nhà tình nghĩa, 10 căn nhà đồng đội trị giá 800.000.000 đồng./.

BỆNH VIỆN QUÂN Y 120

Số 518, Nguyễn Thị Thập, Phường 6, TP Mỹ Tho, Tiền Giang

Điện thoại: 0733.873489 - Fax: 073. 3873 489

Email: benhvienquany120@gmail.com

Đang Online : 2 || Lượt Truy Cập: 82608